T́nh cờ, trong lúc search the web (google), tôi t́m được một số web pages nói về Lê Ngọc Hân, Nguyễn Đ́nh Chiểu và Mỹ Tho.

Tôi chỉ cắt ráp và đưa vào html cho người đọc khỏi phải search.

Web links có kèm theo đây, ngay trên trang tựa của mổi bài.

Hoàn toàn không có edit, bài nguyên văn của tác giả.

 

Từ Quế Minh

10/08/2008

 

 

            http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/danhy/htmdocs/NguyenDinhChieu.htm

NGUYỄN Đ̀NH CHIỂU  (1822 – 1888)

 Tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi bị mù lấy hiệu là Hối Trai. Người thôn Tân Thái, huyện B́nh Dương, phủ Tân B́nh, tỉnh Gia Định. Sinh năm 1822, mất năm 1888 tại làng An Đức, tỉnh Bến Tre. Năm Thiệu Trị thứ 3  (1843) ông đậu Tú tài trường Hương thí Gia Định và ra Huế thi cử nhân cùng thi Hội, nhưng được tin mẹ mất phải bỏ thi về chịu tang. Dọc đường, do thương khóc quá nên mù cả hai mắt. Sau đó ông dạy học và làm thuốc, v́ thế người dân gọi là cụ Đồ Chiểu. Ông soạn ra quyển ‘Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật’.

Nội dung lên án những việc làm bất chính hại đến tính mạng nhân dân:

+ Cống mê tín dị đoan, chữa bệnh bằng phù phép huyền bí.

+ Chống lừa bịp người bệnh, gian dối trong việc bán thuốc.

+ Chống trị bệnh theo bá đạo, dùng thuốc hoặc châm cứu bừa băi do thiếu học tập y lí. Ông cũng đề cao  việc cứu chữa cho người nghèo khổ, chu cấp thuốc và tận t́nh giúp đỡ họ. Khuyên các thầy thầy thuốc khiêm tốn học hỏi, không tự phụ chủ quan, không giáo điều với sách vở.

Mở đầu có hai bài luận bằng chữ Hán nêu lên tầm quan trọng của nghề y và những nét lớn về y lí trị liệu, cơ sở biện chứng và phương châm dùng thuốc. Bài ‘Trích Yếu’ bàn về âm dương,nêu lên quy luật biến hóa của âm dương, thủy hỏa, khí huyết trong sinh lư và bệnh lư.

Phần Đạo Dẫn và Nhập Môn nói chuyện với Ngư tiều bằng ca Nôm lục bát, có phụ thêm các bài thơ ca bằng chữ Hán, gồm các mục lư luận cơ bản về Ngũ hành, Tạng phủ, Kinh lạc, Vận khí, Chản đoán, Biện chứng, Dược học, Nhi khoa, Phụ khoa, Châm cứu.

Phần cuối có một bài Luận Về Tiêu Bản và một bài Tạp Trị Phú bàn chung về các cách trị bệnh…

Ngoài ra, sách cũng c̣n đề cập đến 4 mục:

1- Lịch sử Đông y với những sách thuốc cần đọc.

2- Âm Chất: nói về đạo đức của người thầy thuốc và việc ăn ở nhân đức, từ thiện (nhân thuật, nhan đạo).

3- Tra Án: răn các thầy thuốc chữa bậy, vụ lợi và chống mê tín dị đoan.

4- Thiện Chân: nêu lên phép dưỡng sinh và vệ sinh pḥng bệnh.

 

 

 

            http://www.vntruyen.com/tm.asp?m=3927

 

Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân



Ngày xưa các vua chúa thường có rất nhiều vợ. Không rơ Quang Trung có bao nhiêu vợ khi đă làm chủ từ Bắc hà đến cơi Nam. Theo tài liệu để lại, có thể nói đến hai Hoàng hậu của vua: Chính cung Hoàng hậu và Bắc cung Hoàng hậu. Bà Chính cung Hoàng hậu họ Phạm, người phủ Qui Nhơn, là chị cùng mẹ khác cha với H́nh bộ thượng thư Bùi Văn Nhất và Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Khi Quang Trung đăng quang năm Kỷ Dậu (1789) th́ bà cũng được lập làm Chính cung Hoàng hậu. bà sinh được 3 con trai, 2 con gái: Nguyễn Quang Toản là con đầu, được làm Thái tử, con thứ là Nguyễn Quang Thùy được phong làm Khanh công lĩnh bắc thành Tiết chế thủy bộ chủ quân. Con trai thứ ba là Nguyễn Quang Bàn được phong làm Tuyên công lĩnh Thanh Hoa đốc trấn tổng lư dân sự.

Đại Nam thực lục, biên niên sử của triều Nguyễn, c̣n chép những người con khác của Nguyễn Huệ: tháng 5 năm Tân Hợi (1801) khi kinh đô Phú Xuân thất thủ cho đến khi Nguyễn ánh lấy đuợc cả Bắc Hà, quân Nguyễn ánh c̣n bắt được các em của Quang Toản có tên là: Quang Cương, Quang Tự, Quang Điện, Thất, Quang Duy...

Song, trong số các bà vợ, người được Nguyễn Huệ yêu qúy nhất là Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Nàng được phong làm Bắc cung Hoàng hậu vào dịp Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, khi mới 18 tuổi, hai năm sau đám cưới tưng bừng được cử hành tại Thăng Long. Lúc đầu chỉ là sự sắp đặt theo mưu đồ chính trị, theo lối"Mỹ nhân kế"mà Nguyễn Hữu Chỉnh là người bày đặt, nhưng về sau, cuộc t́nh của họ lại rất tốt đẹp, trai anh hùng gặp gái thuyền quyên.

Với thế mạnh như chẻ tre, năm Bính Ngọ (1786), Long Nhương tướng quân Tiết chế Nguyễn Huệ xuất hiện ở Thăng Long trong hào quang chiến thắng. Quân Trịnh thua chạy tan tác, vua Lê th́ ở tuổi "cổ lai hy" vốn an phận với cương vị bù nh́n mặc cho các chúa Trịnh tác oai tác phúc. Ông tướng trẻ mới 34 tuổi này xuất hiện làm cho cả kinh thành xao động. Nguyễn Huệ muốn ǵ? Lấy ngai vàng của vua Lê đối với Huệ không phải là khó! Song Huệ đă làm đúng như lời tuyên bố ban đầu: diệt Trịnh pḥ Lê. Vua Lê nghĩ đến việc ban cho Huệ chức tước vào bậc cao nhất trong triều: Nguyên súy Uy quốc công. Vậy th́ c̣n ǵ để vừa ḷng viên tướng chiến thắng nếu không phải là ngọc ngà châu báu hay là một bóng giai nhân. Đón biết suy nghĩ của chủ tướng, Nguyễn Hữu Chỉnh đă giả ư vua Lê "muốn gả một nàng công chúa cho chủ súy Tây Sơn để lấy chỗ dựa lúc tuổi già", Nguyễn Huệ với giọng hăng hái đầy tự nhiên nói:

- Xưa nay những kẻ chinh phu xa nhà, t́nh khuê pḥng rất cần thiết. Hoàng thượng cũng xét đến chỗ ấy kia à? ừ! em vua nước Tây làm rể vua nước Nam, "môn đương hộ đối" như thế, tưởng cũng không mấy người có được.

Biết Nguyễn Huệ đă bằng ḷng, Nguyễn Hữu Chỉnh liền vào cung tâu hết với vua Lê. Lúc đó nhà vua đă 70 tuổi, vẫn c̣n 5,6 người con gái chưa chồng. Trong số các nàng công chúa, chỉ có nàng Ngọc Hân đẹp và nết na hơn cả. Vua Lê rất cưng chiều nàng và cho học hành đủ cả cầm kỳ thi họa. Nhà vua vẫn thường tự nhủ:

- Con bé này ngày sau nên gả làm Vương phi, không nên gả cho hạng pḥ mă tầm thường.

Nghe Chỉnh nói đến việc dùng "kế mỹ nhân", vua Lê đă nghĩ ngay đến cô con gái cưng, nhưng vẫn cẩn thận bảo với Nguyễn Hữu Chỉnh:

- Con gái chưa chồng trẫm c̣n nhiều, nhưng chỉ có ḿnh Ngọc Hân là có chút nhan sắc. Tuy vậy, thói thường yêu con vẫn thiên lệch, chưa biết ở mắt người ngoài th́ ra sao. Ngươi hăy ở đây, để trẫm cho đ̣i cả ra mà coi qua, rồi tùy ngươi lựa xem người nào xứng đáng th́ giúp cho thành việc đi!

Khi đă nh́n thấy các công chúa, Chỉnh cũng nhất trí với nhà vua, chọn nàng Ngọc Hân gả cho Nguyễn Huệ với niềm tin rằng Huệ khó có thể cầm ḷng được khi đă gặp nàng.

Khi nghe Chỉnh nói về nàng công chúa Ngọc Hân tuổi vừa đôi tám, xinh đẹp tuyệt trần, xin cho được nương bóng nhà sau hầu hạ lược khăn cho người dũng tướng, th́ Nguyễn Huệ rất vui và thật thà nói:

- V́ dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà về; bọn trẻ nó cười cho th́ sao. Tuy nhiên, ta chỉ mới quen gái Nam Hà, chưa biết gái Bắc hà, nay cũng nên thử một chuyến xem có tốt không.

Rồi Huệ lại nói với một giọng đầy nghiêm túc và cảm động:

- Tôi xin kính lạy dưới bệ Hoàng thượng vạn tuế! Ở khe núi hẻo lánh xa xôi tới đây, há dám đường đột như vậy? Bây giờ may sao được bám vào cành vàng lá ngọc, thật là mối nhân duyên kỳ ngộ ngàn năm mới có. Kẻ ở khe núi này xiết bao mừng rỡ.

Thế rồi đám cưới của chủ súy quân Tây Sơn với nàng công chúa đất Bắc được tổ chức rất trọng thể tại Thăng Long thành.

Công chúa Ngọc Hân lúc mới về với Nguyễn Huệ c̣n rất e thẹn sau rồi cũng quen. Hôm vào làm lễ yết các vị tiên đế ở thái miếu, Nguyễn Huệ và công chúa Ngọc Hân gióng kiệu cùng đi, lễ xong lại gióng kiệu cùng về. Nguyễn Huệ lấy làm hănh diện mà hỏi công chúa:

- Con trai con gái nhà vua, đă có mấy người được vẻ vang như nàng?

Công chúa đáp:

- Nhà vua ít lộc, các con trai con gái ai cũng thanh bạch nghèo khó, chỉ riêng thiếp có duyên, lấy được lệnh công, ví như hạt mưa, bụi ngọc bay ở giữa trời được sa vào chốn lâu đài như thế này, là sự may mắn của thiếp mà thôi.

Nguyễn Huệ nghe nàng nói, rất hài ḷng và càng thêm yêu quí nàng hơn.

Thế rồi ngày Nguyễn Huệ phải về Nam đă đến, nàng công chúa lần đầu tiên đi xa phải từ biệt người thân và hoàng gia cùng kinh thành Thăng Long, theo chồng vào Phú Xuân. Bà sinh được hai người con, một trai là Nguyễn Văn Đức và mọt gái là Nguyễn Thị Ngọc. Vua Quang Trung yêu quí Ngọc Hân không chỉ v́ sắc đẹp, nết na mà c̣n trọng nàng ở tài văn chương nhạc họa và cả những kiến thức về thời cuộc quốc gia. T́nh yêu của họ ngày càng nồng thắm. Người dân kinh thành Thăng Long cứ mỗi mùa xuân đến ngắm hoa đào đỏ thắm lại nhớ đến cành đào xuân Kỷ Dậu, vua Quang Trung áo bào c̣n vương mùi thuốc súng vội cho ngựa trạm đem cành đào Nhật Tân vào Phú Xuân tặng người vợ yêu báo tin chiến thắng.

Họ chỉ sống hạnh phúc được trọn 6 năm, vua băng hà lúc tuổi đời c̣n nhiều hứa hẹn... Ngọc Hân đau xé ḷng khóc chồng bằng bài "Ai tự văn"

... Buồn thay nhẽ! Sương rơi gió lọt
Cảnh đ́u hiu thánh thót châu sa!
Tưởng lời di chúc thiết tha,
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê.

Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa nở!
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong?
Quyết liều mang vẹn chữ ṭng
Trên rường nào ngại giữa ḍng nào e!

Con trứng nước thương v́ đôi chút
Chữ t́nh thân chưa thoát được đi
Vậy nên nấn ná đợi khi...
H́nh th́ tuy ở phách th́ đă theo...

Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, họ ngọai chuyên quyền, nội bộ triều Tây Sơn lục đục rồi mất. Ngọc Hân và hai con phải đổi tính danh vào sống lẫn với dân chúng ở Quảng Nam. Không lâu sau, bị phát hiện và bị bắt, Ngọc Hân uống thuốc độc quyên sinh, hai con bị thắt cổ chết, đó là năm Kỷ Mùi (1799) khi bà mới 29 tuổi.

Nghe tin thê thảm ấy, Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, mẹ đẻ ra Ngọc Hân, lúc đó sống ở quê Phù Ninh (tục gọi là làng nành, tỉnh Bắc Ninh) liền thuê người vào Quảng Nam lấy trộm được xác con và hai cháu ngoại đem về mai táng tại làng rồi cho dựng miếu thờ. Gần 50 năm sau, dưới thời Thiệu Trị nhà Nguyễn, miếu bị đổ nát. Một ông tú người làng Nành nhớ công lao của Chiêu Nghi họ Nguyễn đối với dân làng, đă quyên tiền tu sửa ngôi miếu. Không ngờ có tên phó tổng cùng làng vốn thù riêng với ông tú, đă cất công vào Huế tâu vua việc thờ "ngụy Huệ". Triều đ́nh Huế liền hạ lệnh triệt phá ngôi miếu, quật ba ngôi mộ, vứt hài cốt xuống sông. Ông tú kia bị trọng tội. Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai cũng bị giáng chức.

SƯU TẦM

 

 

 

 

            http://saigon.nguoihanoi.net/forum/showthread.php?t=3805

 

Nằm mộng gặp hoa bích đào,
nhớ công chúa Ngọc Hân



Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng có lần phát biểu, lịch sử của Việt Nam thư ờng pha trộn truyền thuyết và hiện thực. Mà cành hoa đào vua Quang Trung tặng Ngọc Hân công chúa là một ví dụ cụ thể.

V́ theo khảo cứu của giáo sư, chi tiết cành hoa đào bích xuân Kỷ Dậu 1789 là chuyện không hề xảy ra. Thế nhưng, người dân Việt hầu như ai cũng biết và tin câu chuyện đẹp đẽ này có thật và xem đó như là biểu tượng của một t́nh yêu măi sáng trong.


I. Vắn tắt tiểu sử Lê Ngọc Hân (1770 - 1799)

Lê Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông và bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền. Bà có nhan sắc, thông minh, lại giỏi thơ văn.

Năm 1786, anh hùng "áo vải cờ đào" Nguyễn Huệ ra Bắc với chiêu bài "phù Lê diệt Trịnh". Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ và theo ông về Thuận Hóa.

Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế trước khi ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh, lấy niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu Cung Hoàng Hậu.

Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng Hậu.
Năm 1792, Quang Trung Hoàng Đế đột ngột băng hà…

II. Về cái chết của Lê Ngọc Hân

Có nhiều giả thuyết về cái chết của Bắc Cung Hoàng Hậu,
song thuyết đáng tin cậy nhất là :

1.Trích dẫn bài viết của PGS Chu Quang Trứ :

Lê Ngọc Hân đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ở Huế) cạnh điện Đan Dương để thờ chồng nuôi con.
(Lăng mộ Quang Trung, người đương thời gọi là Đan Lăng hay Đan Dương lăng. Tháng 11 Tân Dậu (1801), 6 tháng sau khi chiếm được Phú Xuân, Gia Long đă cho phá hủy lăng mộ Quang Trung, san thành b́nh địa. Từ đó đến nay đă hơn 200 năm, Đan Lăng bị mất dấu. Vị trí Lăng này ở đâu vẫn là điều bí ẩn đối với biết bao thế hệ các nhà nghiên cứu. Và điện Đan Dương có thể ở kề cận nơi chôn cất vua Quang Trung- người soạn ghi thêm )

Bà gượng sống đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799) th́ mất, lúc ấy mới 29 tuổi. ( v́ lư do ǵ không thấy nêu cụ thể- người soạn ghi thêm)

Khi đó Phan Huy ích đang là một trọng thần của Tây Sơn, đă soạn giúp năm bài văn tế. Cả năm bài này có chép trong sách Dụ Am văn tập.

Tiếp theo, triều đ́nh Cảnh Thịnh lục đục và suy yếu, ngày càng bị tập đoàn Nguyễn ánh đe dọa. Hai con bà phải đổi sang họ Trần, nhưng rồi với sự sụp đổ của triều Tây Sơn, theo tộc phả họ Nguyễn Đính, ngày 18 tháng 11 năm Tân Dậu (23-12-1801) hoàng tử Văn Đức mất khi mới 10 tuổi, rồi ngày 17 tháng 4 năm Nhâm Tuất (18-5-1802) công chúa Ngọc Bảo cũng mất khi mới 12 tuổi.

Không rơ có phải như truyền thuyết là bị nhà Nguyễn giết hại trong khi trốn tránh? Nhưng cũng có thể chết bệnh vào những thời điểm khác nhau, v́ không có tên trong danh sách vua tôi nhà Tây Sơn bị Gia Long hành h́nh !

Hơn nữa bộ sách chính sử của nhà Nguyễn Đại Nam Thực lục nhân năm 1842 phá hủy đền thờ Ngọc Hân ở Phù Ninh có ghi: "Nguyên người xă ấy là Nguyễn Thị Huyền làm cung nhân của vua Lê Hiển Tông, có người con gái là Lê Ngọc Hân, sau gả cho ngụy (Nguyễn) Huệ, sinh được 1 trai và 1 gái, Ngọc Hân chết, con trai, con gái cũng chết non cả".

Phần "Biệt lục" của tộc phả Nguyễn Đính có ghi thêm:

Bà Nguyễn Thị Huyền ( mẹ của Ngọc Hân, vợ vua Lê Hiển Tông) thương con gái và các cháu ngoại đều chết yểu nơi xa.

Nên vào năm 1804, bà thuê người vào Phú Xuân lấy hài cốt của ba mẹ con rồi cải táng vào giờ Ngọ ngày mồng 9 (16-7-1804).Nơi đó nay là Băi Cây Đại hay Băi Đầu Voi ở đầu làng Nành, xă Phù Ninh ( nay là xă Ninh Hiệp - Gia Lâm, Hà Nội)

Sự việc này, bộ Đại Nam thực lục ghi tiếp ở năm 1842: "Khoảng năm đầu Gia Long, ngụy đô đốc tên là Hài ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm ở địa phận xă Phù Ninh. Thị Huyền ngầm xây mộ, dựng đền, khắc bia giả, đổi lại họ tên để làm mất dấu tích".

Vẫn theo tộc phả họ Nguyễn Đính và kết hợp truyền thuyết địa phương, th́ sau này có người trong làng tố giác việc làm trên nên vua Thiệu Trị đă cho phá hủy đền thờ ở dinh Thiết Lâm, quật mộ ba mẹ con Ngọc Hân, đổ hài cốt xuống sông - nơi này sau dân lập đền ghềnh thờ bà; chánh tổng bị lột da, tri phủ bị cách chức.

Bộ sử Đại nam thực lục năm 1842 cũng xác nhận: "Tới đây, việc ấy phát giác, vua sai hủy đền thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy".

Từ năm 1842 dinh Thiết Lâm bị phá, nền dinh bỏ hoang thành đất công của làng, nhưng dân vẫn gọi là "Vườn Dinh" và dựng lên đây Một "Miếu cô hồn" kín đáo thờ Ngọc Hân.

Măi gần trăm năm sau, đến năm 1937 họ Nguyễn Đính đổi đất với làng lấy lại một phần nền dinh Thiết Lâm và lập lại đền thờ bà Nguyễn Thị Huyền cùng với Ngọc Hân. Đồng thời, tại băi cây Đại, cùng với việc sửa lại mộ bà Nguyễn Thị Huyền, dân làng cũng đắp nấm mộ tượng trưng (mộ gió) của mẹ con Ngọc Hân, tương truyền là chính chỗ mà năm 1842 bị Thiệu Trị quật phá…

2. C̣n theo Ngô Tất Tố trong "Lược sử công chúa Ngọc Hân" (Thi văn b́nh chú, Hà Nội 1952) th́ có điểm khác là:

Sau khi nhà Tây Sơn thất bại, Ngọc Hân và các con đều đổi tên họ lẻn vào một làng thuộc tỉnh Quảng Nam. Nhưng chẳng bao lâu th́ bị phát giác. Ngọc Hân phải uống thuốc độc tự tử, c̣n hai con đều bị thắt cổ chết.

Đồng ư kiến này , trên web dactrung.net, không thấy ghi tên người soạn, c̣n mô tả thêm :

Khi Nguyễn Quang Toản, con ḍng lớn lên nối ngôi, họ ngọai chuyên quyền, nội bộ triều Tây Sơn lục đục rồi mất. Ngọc Hân và hai con phải đổi tính danh vào sống lẫn với dân chúng ở Quảng Nam. Không lâu sau, bị phát hiện và bị bắt.Ngọc Hân uống thuốc độc quyên sinh, hai con bị thắt cổ chết, đó là năm Kỷ Mùi (1799) khi bà mới 29 tuổi.

Nghe tin thê thảm ấy, Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, mẹ đẻ ra Ngọc Hân, lúc đó sống ở quê Phù Ninh (tục gọi là làng nành, tỉnh Bắc Ninh) liền thuê người vào Quảng Nam lấy trộm được xác con và hai cháu ngoại đem về mai táng tại làng rồi cho dựng miếu thờ.

Gần 50 năm sau, dưới thời Thiệu Trị, miếu bị đổ nát. Một ông tú người làng Nành nhớ công lao của Chiêu Nghi họ Nguyễn đối với dân làng, đă quyên tiền tu sửa ngôi miếu. Không ngờ có tên phó tổng cùng làng vốn thù riêng với ông tú, đă cất công vào Huế tâu vua việc thờ "bọn ngụy Huệ". Triều đ́nh Huế liền hạ lệnh triệt phá ngôi miếu, quật ba ngôi mộ, vứt hài cốt xuống sông. Ông tú kia bị trọng tội. Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai cũng bị giáng chức

3. Thêm một ư kiến khác:

Theo bài “Triều Nguyễn với Lê Ngọc Hân” đăng trên tạp chí Xưa Và Nay, Đỗ Đức Hùng viết :
Trước đây trong một số bài viết của ḿnh, tôi cũng theo ư kiến cho rằng công chúa Ngọc Hân đă mất từ trước khi triều Tây Sơn bị sụp đổ hoàn toàn.

Song khi đọc kỹ lại "Quốc sử di biên", tập thượng, bản dịch Sài G̣n 1973, tr.136., tôi thấy tác giả đời Nguyễn là Phan Thúc Trực (1808 - 1852), chép rơ ràng như sau:

" Nguyên năm Bính Ngọ (1786) niên hiệu Lê Cảnh Hưng, vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Đến khi nhà Tây Sơn mất, công chúa lại về ở tại mẫu quán là làng Phù Ninh. Tại đây, tháng 5 năm Giáp Tư (1804) công chúa nhà cựu Lê là Ngọc Hân tạ thế.Kẻ hàng thần hiện nhậm chức quan tại huyện Đông Ngạn xin làm tang lễ cho cố công chúa, nhà vua chấp thuận, dân làng Phù Ninh làm từ đường thờ cố công chúa"

Với tư cách là bộ sử tư nhân, ghi chép và bổ sung những sự kiện mà quốc sử c̣n bỏ sót hoặc đề cập đến chưa chính xác, được biên soạn vào khoảng đầu thời vua Tự Đức (khoảng 1851 - 1852), quốc sử di biên đă cung cấp những thông tin quan trọng:

- Có thể là hai người con của bà Ngọc Hân với Nguyễn Huệ đă bị giết hại sau khi nhà Tây Sơn bị sụp đổ, nhưng riêng Lê Ngọc Hân vẫn c̣n sống mà trở về quê mẹ là làng Phù Ninh.

- Bà Lê Ngọc Hân đă qua đời tại quê nhà vào tháng 5 năm Giáp Tư (1804) và đă được vua Gia Long nhà Nguyễn cho phép làm tang lễ và nhân dân làng Phù Ninh đă xây dựng từ đường để thờ bà. Điều này có thể hiểu được v́ chính vua Gia Long đă lấy em gái của Lê Ngọc Hân, nên ông vua này không thể không nể t́nh …

Cùng quan điểm này là tác giả Nhất Thanh trong bài viết “Công chúa Lê Ngọc Hân...”, Văn sử địa, số 21, Sài G̣n, 1971.

Tác giả cho rằng khi triều Tây Sơn sụp đổ, Lê Ngọc Hân có bị bắt cùng với hai con hoặc ở Huế hoặc ở nơi khác. Vua Gia Long đă sai giết hai con bà một cách kín đáo, c̣n riêng Lê Ngọc Hân th́ cho về quê mẹ v́ nghĩ t́nh vừa lấy em bà là Lê thị Ngọc B́nh làm vợ…

III.Ư của người soạn để thay lời kết:

Người soạn nghiêng về ư kiến: Ngọc Hân mất ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799), lúc ấy mới 29 tuổi. C̣n lư do chết trẻ của cả 3 mẹ con tuy ḷng tôi thường ngờ, nhưng đành phải chờ ư kiến của các nhà sử học chứ không dám nói bừa.

C̣n việc cải táng rồi bị phá bỏ mồ mả của mẹ con bà tôi tin vào Đại Nam thực lục, là bộ sách chính sử của nhà Nguyễn.

Ngẫm cuộc đời Lê Ngọc Hân tuy ngắn ngủi, nhưng bà thực sự là một nhân vật lịch sử, một nữ sĩ tài hoa, một người vợ tuyệt vời thật đáng tiêu biểu cho phẩm hạnh của người phụ nữ Việt Nam
…Ấy vậy mà, gần 50 năm sau, không ngờ có kẻ đă kể trên, chắc chắn nhân cách chẳng ra ǵ, đă cất công vào tận Huế tố cáo việc thờ "bọn ngụy Huệ".Khiến vua Thiệu Trị hạ lệnh triệt phá ngôi miếu, khai quật cả ba ngôi mộ, vứt hài cốt xuống sông…

Vậy là lăng mộ cùng thân xác của người “anh hùng áo vải” cũng chẳng c̣n; chút hài cốt của người vợ trẻ cùng 2 con thơ dại của người hùng anh ấy cũng chẳng c̣n ; c̣n chăng chỉ là ba nấm mộ gió nằm lặng lẽ, hiu quạnh… được người dân thủa xưa kia yêu mến lén lút đắp lên & thờ cúng như những"cô hồn"!...

Thật ḷng mấy câu thơ trong bài “Ai Tư Văn” mà Ngọc Hân dành để tế Nguyễn Huệ

Cuộc tụ, tán, bi, hoan kíp bấy,
Kể sum vầy đă mấy năm nay?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đă vậy, thân này nương đâu?...


Tôi tin người góa bụa trẻ này không chỉ khóc cho chồng, cho sự rạn nứt chóng vánh của một triều đại, mà c̣n để khóc cả cho thân phận ḿnh !...

Bùi Thụy Đào Nguyên, tập hợp.

http://img123.imageshack.us/img123/4175/ba...sonbdnhodh2.jpg
[
Ảnh : Bảo Tàng Quang Trung tại Tây Sơn

Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này

 

thuydaonguyen

Xem hồ sơ

T́m bài gởi bởi thuydaonguyen

  #2  

Old09-09-2007, 12:36 AM

thuydaonguyen thuydaonguyen is offline

Member

 

Gia nhập: Jun 2007

Bài gởi: 98

Mặc định


Phần soạn thêm :

1.Nhân đây xin được đính chính :

Số đâu có số lạ đời,
Con vua mà lại hai đời chồng vua.


Đó là hai câu ca dao vẫn c̣n lưu truyền trong dân gian tại vùng đất cố đô Huế cho đến những năm đầu thế kỷ XX. Nó phản ánh một thực tế lịch sử. Song cái nguy hại là nhiều người đă hiểu lầm câu ca dao kia ám chỉ vào công chúa Lê Ngọc Hân. Thậm chí, một tác giả đă viết cả một bài báo.
Đó là một sự lầm lẫn.Thực tế, Ngọc Hân chưa từng bao giờ lấy vua Gia Long mà đó chính em gái của bà tên Lê Thị Ngọc B́nh, người vợ trẻ đẹp của vua nhà Tây sơn Nguyễn Quang Toản

2.Một tư liệu có liên quan :

Trong bức thơ đề ngày 16 tháng 7 năm 1801 của Barizy, một sĩ quan người Pháp, tháp tùng cùng Nguyễn Ánh vào chiếm Phú xuân đă ghi lại như sau:

"Nhà vua (Nguyễn Ánh) bảo tôi đi xem mặt các cô công chúa của kẻ tiếm vị (Quang Trung). Tôi đến đó họ ở trong một pḥng hơi tối, không phải là một pḥng sang trọng, có tất cả năm công chúa: một cô 16 tuổi theo tôi là một cô gái đẹp, một em bé 12 tuổi là con gái của bà Công chúa Bắc kỳ (Ngọc Hân) em này cũng coi được, c̣n ba cô nữa cũng từ 16 đến 18 tuổi th́ nước da hơi nâu nhưng diện mạo cũng dễ thương.

Ngoài ra c̣n có 3 con trai, có một em độ 16 tuổi cũng da nâu nhưng nét mặt th́ tầm thường, c̣n em trai kia độ 12 tuổi là con của bà công chúa Bắc kỳ th́ diện mạo rất đáng yêu và có những cử chỉ rất dễ thương".

Trong thư của Barizy, ta không thấy ghi sự có mặt Hoàng hậu Ngọc Hân mà ông ta đă gọi là “Công chúa Bắc kỳ”.

(Ư người soạn : Suy ra việc bà mất vào năm1799, phù hợp nhiều tài liệu;chỉ có điều theo mấy lời thư mà tôi cố ư tô đậm, th́ con ai đă chết non theo những tài liệu trích dẫn bên trên ?...)

3. Nỗi buồn của người soạn từ 2 bài báo :

a. Tiếng kêu cứu từ phần mộ Ngọc Hân công chúa:

http://www1.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2006/5.../5/8/147834.tno, ngày 08/05/2006 ( trích ) :
Ông Nguyễn Đ́nh Kiu là cháu đời thứ 5 của Công chúa Ngọc Hân. Hiện nay, ông hơn 70 tuổi, là người kiên tŕ làm đơn kiến nghị gửi đến các cấp xin tôn tạo phần mộ và đền thờ Công chúa vắn số này trong suốt 26 năm qua…

Đến năm 1990, được chỉ đạo trực tiếp của Bí thư Thành ủy Hà Nội lúc bấy giờ là ông Phạm Thế Duyệt , một đoàn cán bộ nghiên cứu khoa học của Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội đă đến điều tra xem xét và kết luận:
"Việc hài cốt của danh nhân Lê Ngọc Hân và hai con chôn tại miền Trung được mẹ là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, t́m cách đem về chôn tại băi Cây Đại, làng Phù Ninh, nay là xă Ninh Hiệp và được cúng giỗ tại dinh Thiết Lâm của bà Nguyễn Thị Huyền là sự kiện có thật.

Với ư nghĩa nhiều mặt, Lê Ngọc Hân đă có thời gian gắn bó với quê ngoại khi sống cũng như khi chết. Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội tán thành với ư kiến của Hội đồng khoa học là nên tạo dựng một h́nh thức xứng đáng tại xă Ninh Hiệp ở khu mộ băi Cây Đại, hoặc ở tại một điểm trang trọng trên nền đất khu dinh Thiết Lâm cũ".

Vậy mà cho đến nay,( tính thời điểm bài báo ra ngày 8/5/2006), đă nhiều năm trôi qua kể từ ngày có sự chỉ đạo đó( năm 1990), việc xây dựng khu tưởng niệm Công chúa Ngọc Hân, vợ của người anh hùng, vẫn chưa được bắt tay thực hiện…

…Và tượng bà Nguyễn Thị Huyền trước đây được để trong nhà thờ th́ đă bị ai đó gói vào bao tải cũ đặt ở nhà kho trạm xá đă bỏ hoang, mạng nhện bùn đất đầy đầu, đầy mặt tượng.Tới nay tượng được "đối xử" khá hơn một tí, có vải che mặt, trùm đầu, song vẫn bị đưa vào tạm trú ở nhà kho của "nhà văn hóa" xă.

C̣n phần mộ của Ngọc Hân công chúa hiện nay chỉ c̣n là một cái nấm thấp lè tè khoảng 20cm, bề ngang chỉ độ 50cm, dài chừng 2 thước….

Theo Hồng Hạc

b. Mộ tưởng niệm công chúa Ngọc Hân (Hà Nội): Nguy cơ bị biến mất.
( trích ):

…khu mộ mộ bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền( mẹ của Ngọc Hân, vợ vua Lê Hiển Tông ) cùng mộ Ngọc Hân nằm lọt thỏm giữa những căn nhà hai ba tầng…

Xung quanh khuôn viên được xây bằng hàng ngạch tạm bợ và đầy những vật liệu xây dựng ngổn ngang. Chỉ tính khuôn đất dành riêng cho hai ngôi mộ này th́ nhiều lắm cũng chỉ 10m2
Riêng ngôi mộ “tưởng niệm” Ngọc Hân th́ quá thô sơ. không bia, không tên, tuổi Chiều dài chỉ khoảng 2m, rộng 60cm và cao 20cm..

Báo Pháp luật & đời sống, số ra ngàyThứ Năm, 21/06/2007

4.Vài lời với những tác giả có tư liệu mà tôi đă sử dụng:

V́ nỗi riêng, người soạn đành phải dang dở việc học; may mà có net cùng với mớ sách vở nhờ dành dụm có được, nên dù c̣n non kém nhiều mặt, tôi vẫn cố gắng soạn một số bài cốt chỉ để chia sẻ, để học hỏi, để đỡ nhớ chữ nghĩa...chứ thật tâm không hề v́ danh, v́ lợi.

Với ư nghĩa ấy cùng tấm ḷng muốn “ôn cố tri tân”,“ dân ta phải biết sử ta”; tôi mong những tác giả có tư liệu mà tôi đă trích dẫn trong nhiều bài viết đă đăng tải trên net, xin vui ḷng lượng thứ v́ lỗi “sử dụng không xin phép trước”.

Chào trân trọng. BTĐN

http://img210.imageshack.us/img210/7328/an...angtrungpi4.jpg

Ảnh được xem như là ảnh vua Quang Trung

http://img253.imageshack.us/img253/9650/mo...hanbnphiex5.jpg

Ảnh : Mộ Nguyễn Thị Huyền,có miếu thờ
“Mộ gió” Lê Ngọc Hân nằm phía bên phải ảnh

 

 

 

 

            http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=296320

 

Nằm mộng gặp hoa bích đào,
Nhớ công chúa Ngọc Hân…

Một bạn thơ cho biết, ngày Quang Trung vào Thăng Long
có giao cho đô đốc Tuyết mang gấp một cành đào vàoPhú Xuânđể tặng cho công chúa Ngọc Hân.C̣n
Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng có lần phát biểu, lịch sử của Việt Nam thường pha trộn truyền thuyết và hiện thực. Mà cành hoa đào vua Quang Trung tặng Ngọc Hân là một ví dụ cụ thể.
V́ theo khảo cứu của giáo sư, chi tiết cành hoa đào bích xuân Kỷ Dậu 1789  là chuyện không hề xảy ra. Thế nhưng trước 2 ư kiến trái ngược này , người dân Việt hầu như ai cũng tin câu chuyện đẹp đẽ kia có thật và xem đó như là biểu tượng của một t́nh yêu măi sáng trong.
I.Vắn tắt tiểu sử Lê Ngọc Hân (1770 - 1799)
“Người quư giá thế này, thực không hổ thẹn là em dâu của ta”( Nguyễn Nhạc)
*
Lê Ngọc Hân sinh ngày 27 tháng 4 năm Canh Dần (tức 25-5-1770) là con vua Lê Hiển Tông và bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền. Bà có nhan sắc, thông minh, lại giỏi thơ văn.
Năm 1786, anh hùng "áo vải cờ đào" Nguyễn Huệ ra Bắc với chiêu bài "phù Lê diệt Trịnh", Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ và theo ông về Thuận Hóa.
Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu Quang Trung, trước khi ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh, đă sắc phong Ngọc Hân làm Hữu cung hoàng hậu.
Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm Bắc cung hoàng hậu.
Năm 1792, Quang Trung Hoàng Đế đột ngột băng hà…


II. Về cái chết của Lê Ngọc Hân:
Có nhiều giả thuyết về cái chết của Bắc cung hoàng hậu, song thuyết đáng tin cậy nhất và được nhiều người đồng t́nh là:


2.1Theo bản phả kư họ Nguyễn Ngọc ở làng Phù Ninh, huyện Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh th́ Ngọc Hân mất ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (tức 4-12-1799).
Khi đó Phan Huy Ích đang là một trọng thần của nhà Tây Sơn, đă soạn giúp năm bài văn tế.Cả năm bài này, đều có chép trong Dụ Am văn tập.
Và cũng theo viên quan này th́ tang lễ của Ngọc Hân được tổ chức rất trọng thể và được an táng tại Huế, 16 tháng trước khi Nguyễn ánh đánh chiếm Phú Xuân.


Bài viết của PGS Chu Quang Trứ c̣n cho biết thêm chi tiết :
Lê Ngọc Hân đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ở Huế) cạnh điện Đan Dương để thờ chồng nuôi con. (Lăng mộ Quang Trung, người đương thời gọi là Đan Lăng hay Đan Dương lăng. Tháng 11 Tân Dậu (1801), 6 tháng sau khi chiếm được Phú Xuân, Gia Long đă cho phá hủy lăng mộ Quang Trung, san thành b́nh địa. Từ đó đến nay đă hơn 200 năm, Đan Lăng bị mất dấu. Vị trí Lăng này ở đâu vẫn là điều bí ẩn đối với biết bao thế hệ các nhà nghiên cứu. Và điện Đan Dương có thể ở kề cận nơi chôn cất vua Quang Trung- người soạn ghi thêm )
 
Bà gượng sống đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799) th́ mất, lúc ấy mới 29 tuổi. ( v́ lư do ǵ cũng không thấy nêu cụ thể)”


2.1Và cũng chính v́ không biết rơ v́ sao Bắc cung chết trẻ, nên có nhiều lời đồn đoán như sau:
-Ngọc Hân bị ép uống thuốc độc:


Ngô Tất Tố trong "Lược sử công chúa Ngọc Hân" (Thi văn b́nh chú, Hà Nội 1952)ghi :
Sau khi nhà Tây Sơn thất bại, Ngọc Hân và các con đều đổi tên họ lẻn vào một làng thuộc tỉnh Quảng Nam. Nhưng chẳng bao lâu th́ bị phát giác, Ngọc Hân phải uống thuốc độc tự tử, c̣n hai con đều bị thắt cổ chết.
Đồng ư kiến này, trên web dactrung.net, ở mục bài viết có bài “Bắc Cung Hoàng Hậu”, không thấy ghi tên người soạn, mô tả thêm :


Khi Nguyễn Quang Toản, con ḍng lớn lên nối ngôi, bọn họ ngọai mà đứng đầu thái Sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền, nội bộ triều Tây Sơn xảy ra lục đục liên miên.
Ngọc Hân và hai con phải đổi tính danh trốn vào sống lẫn với dân chúng ở Quảng Nam. Không lâu sau, bị phát hiện và bị bắt, Ngọc Hân uống thuốc độc quyên sinh, hai con bị thắt cổ chết, đó là năm Kỷ Mùi (1799) khi bà mới 29 tuổi.(  tác giả không nói rơ phe nào đến bắt, bọn họ ngoại của vua Quang Toản hay quan quân của Nguyễn Ánh?-người soạn ghi thêm)


-Ngọc Hân được b́nh yên chết ở quê nhà:
Theo bài “Triều Nguyễn với Lê Ngọc Hân” đăng trên  tạp chí Xưa và Nay, Đỗ Đức Hùng viết :

Trước đây trong một số bài viết của ḿnh, tôi cũng theo ư kiến cho rằng công chúa Ngọc Hân đă mất từ trước khi triều Tây Sơn bị sụp đổ hoàn toàn.
Song khi đọc kỹ lại "Quốc sử di biên", tập thượng, bản dịch Sài G̣n 1973, tr.136., tôi thấy tác giả đời Nguyễn là Phan Thúc Trực (1808 - 1852), chép rơ ràng như sau:


" Nguyên năm Bính Ngọ (1786) niên hiệu Lê Cảnh Hưng, vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Đến khi nhà Tây Sơn mất, công chúa lại về ở tại mẫu quán là làng Phù Ninh. Tại đây, tháng 5 năm Giáp Tư (1804) công chúa nhà cựu Lê là Ngọc Hân tạ thế.Kẻ hàng thần hiện nhậm chức quan tại huyện Đông Ngạn xin làm tang lễ cho cố công chúa, nhà vua chấp thuận, dân làng Phù Ninh làm từ đường thờ cố công chúa"
Với tư cách là bộ sử tư nhân, ghi chép và bổ sung những sự kiện mà quốc sử c̣n bỏ sót hoặc đề cập đến chưa chính xác, được biên soạn vào khoảng đầu thời vua Tự Đức (khoảng 1851 - 1852), quốc sử di biên đă cung cấp những thông tin quan trọng:


- Có thể là hai người con của bà Ngọc Hân với Nguyễn Huệ đă bị giết hại sau khi nhà Tây Sơn bị sụp đổ, nhưng riêng Lê Ngọc Hân vẫn c̣n sống mà trở về quê mẹ là làng Phù Ninh.


- Bà Lê Ngọc Hân đă qua đời tại quê nhà vào tháng 5 năm Giáp Tư (1804) và đă được vua Gia Long nhà Nguyễn cho phép làm tang lễ và nhân dân làng Phù Ninh đă xây dựng từ đường để thờ bà. Điều này có thể hiểu được v́ chính vua Gia Long đă lấy em gái của Lê Ngọc Hân, nên ông vua này không thể không nể t́nh …


Cùng quan điểm này là tác giả Nhất Thanh trong bài viết “Công chúa Lê Ngọc Hân...”, tạp chíVăn sử địa, số 21, Sài G̣n, 1971.cũng cho rằng khi triều Tây Sơn sụp đổ, Lê Ngọc Hân có bị bắt cùng với hai con hoặc ở Huế hoặc ở nơi khác. Vua Gia Long đă sai giết hai con bà một cách kín đáo, c̣n riêng Lê Ngọc Hân th́ cho về quê mẹ v́ nghĩ t́nh vừa lấy em bà là Lê thị Ngọc B́nh làm vợ…

III.Về cái chết của 2 người con:

Ngày Phú Xuân thất thủ, hai con Ngọc Hân đă trên 10 tuổi.Và cũng theo Lê tộc phả kư th́ người anh trai hơn đứa em gái 2 tuổi.
Lư do khiến hai đứa trẻ vương giả này mất đi, hiện nay vẫn c̣n nhiều ư kiến khác nhau:
3.1Không ghi lư do chết:
-Theo PGS Chu Quang Trứ :
  Tiếp theo, triều đ́nh Cảnh Thịnh lục đục và suy yếu, ngày càng bị tập đoàn Nguyễn Ánh đe dọa. Hai con bà phải đổi sang họ Trần, nhưng rồi với sự sụp đổ của triều Tây Sơn, theo tộc phả họ Nguyễn Đính, ngày 18 tháng 11 năm Tân Dậu (23-12-1801), hoàng tử Nguyễn quang  Đức mất khi mới 12 tuổi, rồi ngày 17 tháng 4 năm Nhâm Tuất (18-5-1802) công chúa Nguyễn Thị Ngọc Bảo cũng mất khi mới 10 tuổi.”
-Đại Nam Thực lục, bộ chính sử của nhà Nguyễn, nhân năm 1842 phá hủy đền thờ Ngọc Hân ở Phù Ninh cũng chỉ ghi rất mơ hồ:
 "Nguyên người xă ấy là Nguyễn Thị Huyền làm cung nhân của vua Lê Hiển Tông, có người con gái là Lê Ngọc Hân, sau gả cho ngụy (Nguyễn) Huệ, sinh được 1 trai và 1 gái, Ngọc Hân chết, con trai, con gái cũng chết non cả".
Phần "Biệt lục" của tộc phả Nguyễn Đính có ghi khá hơn, nhưng cũng không cho biết rơ nguyên do cái chết:
Bà Nguyễn Thị Huyền ( mẹ của Ngọc Hân, vợ vua Lê Hiển Tông) thương con gái và các cháu ngoại đều chết yểu nơi xa.


3.2Bị thắt cổ chết, nhưng không ghi rơ ai giết:
Ngô Tất Tố ở bài viết đă trích dẫn bên trên, ghi khá rơ: “Sau khi nhà Tây Sơn thất bại …Ngọc Hân phải uống thuốc độc tự tử, c̣n hai con đều bị thắt cổ chết.”


3.3 Bị nhà Nguyễn hành h́nh, thuyết này được nhiều người tán đồng:
-Trích sách Triều Tây Sơn của Phan Trần Chúc:


Khi thành Phú Xuân mất, Quang Toản phải chạy ra Bắc, th́ Ngọc Hân nhờ sự che chở của một bầy tôi cũ, mang hai con chạy vào Quảng Nam, đổi tên 2 con ra họ Trần( Trần Văn Đức, Trần thị Ngọc Bảo)và khai ḿnh là vợ một người Bắc vào mua bán ở Phú Xuân, gặp cơn loạn lạc không biết chồng trôi giạt nơi đâu…
Sau có kẻ tố giác nên quan tỉnh bắt mẹ con bà giam cầm. Kết cục, Ngọc Hân phải nhận chén thuốc độc để chết trước,  v́ không muốn nh́n thấy cảnh hai con bị nhà Nguyễn hành h́nh…


-Và trong bức thơ đề ngày 16 tháng 7 năm 1801 của Barizy, một sĩ quan người Pháp, tháp tùng cùng Nguyễn Ánh vào chiếm Phú xuân đă ghi lại như sau:


 "Nhà vua (Nguyễn Ánh) bảo tôi đi xem mặt các cô công chúa của kẻ tiếm vị (Quang Trung). Tôi đến đó họ ở trong một pḥng hơi tối, không phải là một pḥng sang trọng, có tất cả năm công chúa: một cô 16 tuổi theo tôi là một cô gái đẹp,có tất cả 5 công chúa, một cô 16 tuổi, theo tôi là một cô gái đẹp, một em bé 12 tuổi là con gái của bà Công chúa Bắc kỳ (Ngọc Hân) em này cũng coi được, c̣n ba cô nữa cũng từ 16 đến 18 tuổi th́ nước da hơi nâu nhưng diện mạo cũng dễ thương.
Ngoài ra c̣n có 3 con trai, có một em độ 16 tuổi cũng da nâu nhưng nét mặt th́ tầm thường, c̣n em trai kia độ 12 tuổi là con của bà công chúa Bắc kỳ th́ diện mạo rất đáng yêu và có những cử chỉ rất dễ thương".
 
Trong thư của Barizy, ta không thấy ghi sự có mặt Hoàng hậu Ngọc Hân mà ông ta đă gọi là “Công chúa Bắc kỳ”.Và nếu ta tin theo 2 tư liệu sau, th́ 2 con của Ngọc Hân đă bị nhà Nguyễn bắt được và bị xử án chết.



< Sửa đổi bởi: rongxanhag -- 14.1.2008 0:24:55 >

 

Post #: 1

 

RE: Nhớ công chúa Ngọc Hân… - 9.9.2007 5:19:36   

Không có Bài Mới

rongxanhag
Bạn Thâm Giao


Bài viết đă đăng: 163
Gia nhập ngày: 1.4.2007
Hiện trạng:
offline



IV. Mồ mả của Ngọc Hân:
1/ Khi xưa:
-Theo bài viết “Bắc Cung Hoàng Hậu” mà tôi có nói ở phần trên, ghi:
Nghe tin Bắc Cung hoàng hậu và 2 con chết thảm, Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, mẹ đẻ ra Ngọc Hân, lúc đó sống ở quê Phù Ninh (tục gọi là làng nành, tỉnh Bắc Ninh) liền thuê người vào Quảng Nam lấy trộm được xác con và hai cháu ngoại đem về mai táng tại làng rồi cho dựng miếu thờ.
Gần 50 năm sau, dưới thời Thiệu Trị, miếu bị đổ nát.
Một ông tú người làng Nành nhớ công lao của Chiêu Nghi họ Nguyễn đối với dân làng, đă quyên tiền tu sửa ngôi miếu.
Không ngờ có tên phó tổng cùng làng vốn thù riêng với ông tú, đă cất công vào Huế tâu vua việc thờ "bọn ngụy Huệ".
Triều đ́nh Huế liền hạ lệnh triệt phá ngôi miếu, quật ba ngôi mộ, vứt hài cốt xuống sông. Ông tú kia bị trọng tội. Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai cũng bị giáng chức.


- Phần "Biệt lục" của tộc phả Nguyễn Đính, tuy có khác một vài chi tiết, nhưng đa phần sự việc xảy ra cũng tương tự:

Bà Nguyễn Thị Huyền (mẹ của Ngọc Hân, vợ vua Lê Hiển Tông) thương con gái và các cháu ngoại đều chết yểu nơi xa. Nên vào năm 1804, bà thuê người vào Phú Xuân lấy hài cốt của ba mẹ con rồi cải táng vào giờ Ngọ ngày mồng 9 (16-7-1804).

Nơi đó nay là Băi Cây Đại hay Băi Đầu Voi ở đầu làng Nành, xă Phù Ninh ( nay là xă Ninh Hiệp - Gia Lâm, Hà Nội)

Sự việc này, bộ Đại Nam thực lục ghi tiếp ở năm 1842: "Khoảng năm đầu Gia Long, ngụy đô đốc tên là Hài ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm ở địa phận xă Phù Ninh. Thị Huyền ngầm xây mộ, dựng đền, khắc bia giả, đổi lại họ tên để làm mất dấu tích".

Vẫn theo tộc phả họ Nguyễn Đính và kết hợp truyền thuyết địa phương, th́ sau này có người trong làng tố giác việc làm trên nên vua Thiệu Trị đă cho phá hủy đền thờ ở dinh Thiết Lâm, quật mộ ba mẹ con Ngọc Hân, đổ hài cốt xuống sông - nơi này sau dân lập đền ghềnh thờ bà; chánh tổng bị lột da, tri phủ bị cách chức.


Bộ sử Đại nam thực lục năm 1842 cũng xác nhận: "Tới đây, việc ấy phát giác, vua sai hủy đền thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy".
Từ năm 1842 dinh Thiết Lâm bị phá, nền dinh bỏ hoang thành đất công của làng, nhưng dân vẫn gọi là "Vườn Dinh" và dựng lên đây một "Miếu cô hồn" kín đáo thờ Ngọc Hân.
Măi gần trăm năm sau, đến năm 1937 họ Nguyễn Đính đổi đất với làng lấy lại một phần nền dinh Thiết Lâm và lập lại đền thờ bà Nguyễn Thị Huyền cùng với Ngọc Hân.
Đồng thời, tại băi cây Đại, cùng với việc sửa lại mộ bà Nguyễn Thị Huyền, dân làng cũng đắp nấm mộ tượng trưng (mộ gió) của mẹ con Ngọc Hân, tương truyền là chính chỗ mà năm 1842 bị Thiệu Trị quật phá…
 
2.Và hôm nay:
a. Tiếng kêu cứu từ phần mộ Ngọc Hân công chúa: Nguồn http://www1.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2006/5/8/147834.tno, ngày 08/05/2006 ( trích ) :
Ông Nguyễn Đ́nh Kiu là cháu đời thứ 5 của Công chúa Ngọc Hân. Hiện nay, ông hơn 70 tuổi, là người kiên tŕ làm đơn kiến nghị gửi đến các cấp xin tôn tạo phần mộ và đền thờ Công chúa vắn số này trong suốt 26 năm qua…


Đến năm 1990, được chỉ đạo trực tiếp của Bí thư Thành ủy Hà Nội lúc bấy giờ là ông Phạm Thế Duyệt , một đoàn cán bộ nghiên cứu khoa học của Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội đă đến điều tra xem xét và kết luận:


 "Việc hài cốt của danh nhân Lê Ngọc Hân và hai con chôn tại miền Trung được mẹ là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, t́m cách đem về chôn tại băi Cây Đại, làng Phù Ninh, nay là xă Ninh Hiệp và được cúng giỗ tại dinh Thiết Lâm của bà Nguyễn Thị Huyền là sự kiện có thật.
 
"Với ư nghĩa nhiều mặt, Lê Ngọc Hân đă có thời gian gắn bó với quê ngoại khi sống cũng như khi chết. Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội tán thành với ư kiến của Hội đồng khoa học là nên tạo dựng một h́nh thức xứng đáng tại xă Ninh Hiệp ở khu mộ băi Cây Đại, hoặc ở tại một điểm trang trọng trên nền đất khu dinh Thiết Lâm cũ".
Vậy mà cho đến nay,( tính thời điểm bài báo ra ngày 8/5/2006), đă nhiều năm trôi qua kể từ ngày có sự chỉ đạo đó( năm 1990), việc xây dựng khu tưởng niệm Công chúa Ngọc Hân, vợ của người anh hùng, vẫn chưa được bắt tay thực hiện…
…Và  tượng bà Nguyễn Thị Huyền trước đây được để trong nhà thờ th́ đă bị ai đó gói vào bao tải cũ đặt ở nhà kho trạm xá đă bỏ hoang, mạng nhện bùn đất đầy đầu, đầy mặt tượng.Tới nay tượng được "đối xử" khá hơn một tí, có vải che mặt, trùm đầu, song vẫn bị đưa vào tạm trú ở nhà kho của "nhà văn hóa" xă.
C̣n phần mộ của Ngọc Hân công chúa hiện nay chỉ c̣n là một cái nấm thấp lè tè khoảng 20cm, bề ngang chỉ độ 50cm, dài chừng 2 thước…. (Theo Hồng Hạc)


b. Mộ tưởng niệm công chúa Ngọc Hân (Hà Nội): Nguy cơ bị biến mất.
 ( trích ):
khu mộ mộ bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền (mẹ của Ngọc Hân, vợ vua Lê Hiển Tông) cùng mộ Ngọc Hân nằm lọt thỏm giữa những căn nhà hai ba tầng…
Xung quanh khuôn viên được xây bằng hàng ngạch tạm bợ và đầy những vật liệu xây dựng ngổn ngang. Chỉ tính khuôn đất dành riêng cho hai ngôi mộ này th́ nhiều lắm cũng chỉ 10m2
 Riêng ngôi mộ “tưởng niệm” Ngọc Hân th́ quá thô sơ. không bia, không tên, tuổi; chiều dài chỉ khoảng 2m, rộng 60cm và cao 20cm..
(Báo Pháp luật & đời sống, số ra ngàyThứ Năm, 21/06/2007)


V.Ư của người soạn để thay lời kết:


Người soạn nghiêng về ư kiến: Ngọc Hân mất ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799), lúc ấy mới 29 tuổi. C̣n lư do chết trẻ của cả 3 mẹ con: bị bệnh nặng rồi mất hay bị ai đó giết, ta đành phải chờ ư kiến của các nhà sử học.
Việc cải táng rồi bị phá bỏ mồ mả của mẹ con bà tôi tin vào Đại Nam thực lục, là bộ chính sử của nhà Nguyễn.
Ngẫm cuộc đời Lê Ngọc Hân tuy ngắn ngủi, nhưng bà thực sự là một nhân vật lịch sử, một nữ sĩ  tài hoa, một người vợ tuyệt vời với nhiều phẩm hạnh cao quí, thật xứng đáng là người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu ở thế kỷ ấy.
Và cuộc đời của bà cũng đâu thiếu cảnh éo le: Ngọc Hân lấy vua Quang Trung đó chỉ là v́ hiếu đối với cha, v́ xă tắc nhà Lê nhưng lại bị Tôn thất của nhà Lê ruồng bỏ v́ cho bà ăn phải “bă” của Tây Sơn nên đă “phản phúc”…
Ấy vậy mà gần 50 năm sau khi bà đă mất đi, nghịch cảnh đen đủi vẫn c̣n đeo bám: không ngờ có kẻ đă kể trên, chắc chắn nhân cách chẳng ra ǵ, đă cất công vào tận Huế tố cáo việc thờ "bọn ngụy Huệ". Khiến vua Thiệu Trị hạ lệnh triệt phá ngôi miếu, khai quật cả ba ngôi mộ của mẹ con bà, vứt tất cả hài cốt xuống sông…
Vậy là lăng mộ cùng thân xác của người “anh hùng áo vải” cũng chẳng c̣n; chút hài cốt của người vợ trẻ cùng 2 con thơ dại của người hùng anh ấy cũng chẳng c̣n ; c̣n chăng chỉ là ba  nấm mộ gió nằm lặng lẽ, hiu quạnh được người dân thủa xưa kia yêu mến lén lút đắp lên & thờ cúng như những"cô hồn"!...
Thật ḷng mấy câu thơ trong bài “Ai Tư Văn” mà Ngọc Hân dành để tế vua Quang Trung:


Cuộc tụ, tán, bi, hoan kíp bấy,
Kể sum vầy đă mấy năm nay?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đă vậy, thân này nương đâu?..

.
Tôi tin người góa bụa trẻ vương giả này không chỉ khóc cho chồng, cho sự rạn nứt chóng vánh của một triều đại, mà c̣n để khóc cả cho thân phận ḿnh !...
 
Bùi Thụy Đào Nguyên, biên soạn.
 
( Bạn đọc xem toàn bộ bài “Ai Tư Văn “ tại địa chỉ :
http://annonymous.online.fr/Thivien/viewpoem.php?ID=192





< Sửa đổi bởi: rongxanhag -- 14.1.2008 0:32:45 >


(trả lời: rongxanhag)

Post #: 2

 

RE: Nhớ công chúa Ngọc Hân… - 1.1.2008 3:42:40   

Không có Bài Mới

rongxanhag
Bạn Thâm Giao


Bài viết đă đăng: 163
Gia nhập ngày: 1.4.2007
Hiện trạng:
offline


 

Phần soạn thêm :
1.Nhân đây xin được đính chính :
Số đâu có số lạ đời,
Con vua mà lại hai đời chồng vua.

Đó là hai câu ca dao vẫn c̣n lưu truyền trong dân gian tại vùng đất cố đô Huế cho đến những năm đầu thế kỷ XX. Nó phản ánh một thực tế lịch sử. Song cái nguy hại là nhiều người đă hiểu lầm câu ca dao kia ám chỉ vào công chúa Lê Ngọc Hân. Thậm chí, một tác giả đă viết cả một bài báo.
Đó là một sự lầm lẫn.Thực tế, Ngọc Hân chưa từng bao giờ lấy vua Gia Long mà đó chính em gái của bà tên Lê Thị Ngọc B́nh, người vợ trẻ đẹp của vua nhà Tây sơn Nguyễn Quang Toản.
2.Vài lời với những tác giả có tư liệu mà tôi đă sử dụng:
Với tấm ḷng muốn “ôn cố tri tân”,“ dân ta phải biết sử ta”; và cũng chỉ nhằm mục đích chia sẻ, không vụ lợi; tôi mong những tác giả có tư liệu mà tôi đă trích dẫn trong bài viết, xin vui ḷng lượng thứ v́ lỗi “sử dụng không xin phép trước”.
 
Chào trân trọng. BTĐN 

Ảnh : Mộ Nguyễn Thị Huyền,có miếu thờ nhỏ

“Mộ gió” Lê Ngọc Hân nằm phía bên phải ảnh,
( không hiểu sao ngay cả nơi này,
người ta cũng đem phơi đủ loại quần áo …)
 


< Sửa đổi bởi: rongxanhag -- 14.1.2008 0:34:17 >

 

 

 

 

            http://chimviet.free.fr/lichsu/chung/hvcs050.htm

 

Công chúa Đông Đô,
Hoàng hậu Phú Xuân
Nàng là ai ?

Minh Vũ Hồ Văn Chầm

          Trên dưới hai trăm năm nay, trong dân gian thường truyền tụng câu ca dao:

Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua

          Con vua đây là con vua Hiển tông triều Hậu Lê. Nhà Hậu Lê đóng đô ở Hà nội ngày nay, thời bấy giờ gọi là Đông đô. Nàng là công chúa Đông đô. Hai đời chồng vua th́ một đời chồng là vua nhà Nguyễn Tây Sơn, c̣n đời chồng kia là vua sáng lập nhà cựu Nguyễn. Cả hai triều vua Nguyễn Tây Sơn và cựu Nguyễn đều đóng đô ở thành phố Huế ngày nay, thời bấy giờ gọi là Phú Xuân. Nàng là Hoàng hậu Phú Xuân. Vậy nàng là công chúa Đông đô, Hoàng hậu Phú Xuân. Nàng quả là một nhân vật phi thường. Nàng là ai vậy?

          Trong lịch sử cận đại Việt Nam, hễ nói đến công chúa con vua mà lại lấy chồng vua, làm hoàng hậu, là người ta nghĩ ngay đến công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Lê Hiển tông, gả làm vợ vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn. dựa vào câu hát dân gian trên đây, người ta lại cho rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa Lê Ngọc Hân được vua Gia Long lập làm Đệ Tam cung, cho nên bà là công chúa mà lại lấy chồng hai lần, cả hai đời chồng đều là chồng vua cả. Lại cũng có truyền thuyết cho rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, chung cục của Lê Ngọc Hân vô cùng bi thảm. Bà đă cùng hai con trốn tránh được một thời gian rồi bị bắt và bị xử cực h́nh.

          Sự thực như thế nào? Nàng công chúa Đông đô, Hoàng hậu Phú Xuân đích thực là ai vậy?

          Công chúa Lê Ngọc Hân sinh năm 1771, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32, là công chúa thứ 21 con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Bà mẹ công chúa Lê Ngọc Hân tên là Nguyễn Thị Huyền, người làng Phù Ninh, huyện Đông ngàn, tỉnh Bắc ninh. Công chúa Lê Ngọc Hân là em Thái tử Lê Duy Vỹ và là cô Hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ tức là người sau này lên nối ngôi vua Lê lấy niên hiệu là Chiêu Thống. Khi Nguyễn Huệ làm tiết chế, thống lĩnh quân đội Tây Sơn ra đánh Bắc Hà với danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh" vào năm 1786 th́ công chúa Lê Ngọc Hân mới 16 tuổi. V́ Nguyễn Huệ một phần nào cũng có bụng tôn phù nhà Lê, mặt khác do sự mối mai thu xếp của Nguyễn Hữu Chỉnh muốn bắc cầu thân gia giữa vua Lê Hiển tông và Tiết chế Nguyễn Huệ, nên vua Lê Hiển tông đă đem công chúa Lê Ngọc Hân gả cho Nguyễn Huệ và phong Nguyễn Huệ làm Nguyên súy dực chính phù vận Uy Quốc công.

Từ cờ thắm trở vời đất bắc
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy

          Hai vợ chồng Nguyễn Huệ lưu lại Đông đô một thời gian ngắn. Sau khi vua Lê Hiển tông băng hà, công chúa Lê Ngọc Hân theo chồng về Phú Xuân. Đến năm 1789, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, phong cho công chúa Lê Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng hậu. Thế là nàng công chúa Đông đô đă trở thành Hoàng hậu Phú Xuân.

          Điều cần lưu ư là vua Quang Trung có đến hai bà Hoàng hậu được tấn phong cùng một lúc. Ngoài Bắc cung Hoàng hậu họ Lê, vua Quang Trung c̣n có Chính cung Hoàng hậu họ Phạm. Theo Tây Sơn Tiềm Long lục, bà Hoàng hậu họ Phạm này tên là Phạm Thị Liên, người B́nh Định, là anh em ruột với Hộ giá Phạm Văn Ngạn, Giả vương Phạm Văn Trị, Thái úy Phạm Văn Tham và Thái úy Phạm Văn Hưng. Bà Phạm Thị Liên lại c̣n là anh em cùng mẹ khác cha với Thái sư Bùi Đắc Tuyên và H́nh bộ Thượng thư Bùi Văn Nhật.

          Chính cung Hoàng hậu họ Phạm sinh hạ được 5 người con: 3 trai, 2 gái. Người con trai lớn là Quang Toản, c̣n có tên là Quang B́nh, về sau nối ngôi nhà Tây Sơn, tức là vua Cảnh Thịnh. Hai người con trai kia th́ một người tên là Quang Bàn, được phong Tuyên công Lănh Đốc Trấn Thanh hóa, một người tên là Quang Thiệu được cử làm Thái tể. Hai người con gái th́ một người lấy Pḥ mă Nguyễn Văn Trị, c̣n một người th́ gả cho Nguyễn Phước Tư là Tôn thất Hệ nhất nhà cựu Nguyễn. Vua quang Trung rất mực kính trọng bà Chính cung Hoàng hậu họ Phạm này. Theo các tài liệu của Phái bộ Truyền giáo Nam Hà, nhất là lá thư của giáo sĩ Girard đề ngày 25-11-1792 gởi giáo sĩ Boiret ở Macao, th́ khi hoàng hậu lâm bệnh, vua Quang Trung đă cho mời thầy thuốc người Âu đến chữa bệnh và đến khi hoàng hậu mất th́ nhà vua đau đớn vật vă đến phát điên phát cuồng. Bà mất ngày 29-3-1791 mà măi đến ngày 25-6 năm đó mới đưa đi chôn cất. Bà được truy tặng là Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Nhu Thuần Vũ Hoàng Chính Hậu.

          Về phần Bắc cung Hoàng hậu họ Lê, bà là lá ngọc cành vàng, quê ngoại lại là xứ Kinh Bắc tài hoa văn vật, nên bà là một phụ nữ thông minh, đức hạnh và nhan sắc, thật là vẹn toàn mọi vẻ. Ngày mới thành hôn với Nguyễn Huệ, trên đường đi bái yết các tiên đế ở Thái miếu trở về, Nguyễn Huệ hỏi bà: "Các hoàng tử và công chúa, mấy ai được vinh hạnh như nàng, được thành thân với ta, nàng cảm thấy như thế nào?" Tuy mới 16 tuổi đầu, công chúa Lê Ngọc Hân đă tỏ rơ là người giỏi ứng đối: "Nhà vua quen sống đạm bạc, bổng lộc ít ỏi, các hoàng tử và công chúa đều thanh bạch, nay thiếp được nâng khăn sửa túi cho chúa công, cũng tỷ như giọt nước trên không trung rơi vào nơi lầu son gác tía, thân phận thiếp quả là may mắn hơn cả." Nguyễn Huệ rất đẹp ḷng.

          Bà có nhiều ảnh hưởng trong các quyết định quan trọng của Nguyễn Huệ. Khi vua Lê Hiển tông băng hà, Nguyễn Huệ đă nghe lời công chúa Lê Ngọc Hân, có ư muốn lập Sùng Nhượng công Duy Cận lên ngôi thiên tử. Nhưng hoàng tộc nhà Lê v́ việc đó mà đ̣i tước bỏ sổ bộ của công chúa. Nguyễn Huệ lại theo lời bà mà chịu lập Hoàng tử tôn Duy Kỳ lên ngôi vua.

          Vừa thông minh,vừa khôn khéo, trong thời gian làm Hoàng hậu ở Phú Xuân, công chúa Lê Ngọc Hân chẳng những chỉ làm đẹp ḷng Đức chí tôn mà c̣n khuynh loát cả triều đ́nh như chúng ta sẽ thấy về sau này ảnh hưởng của bà lớn lao như thế nào trong việc tuyển chọn hoàng hậu cho vua Cảnh Thịnh. Thật vậy, bà đă quyết định đem em gái là công chúa Lê Ngọc B́nh, cũng là công chúa con vua Lê Hiển tông như bà, vào làm chính cung cho Hoàng đế nối nghiệp nhà Tây Sơn là vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản.

          Công chúa Lê Ngọc Hân lấy Nguyễn Huệ năm 1786, thụ phong Bắc cung Hoàng hậu năm 1789. Bà sinh hạ một trai là Nguyễn Văn Đức và một gái là Nguyễn Thị Ngọc. Công chúa Lê Ngọc Hân mất năm 1799, đương triều vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn. Năm đó bà mới 29 tuổi. Bà được truy tặng là Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Bà là người vừa giỏi văn quốc âm, vừa thông sách Hán tự. Lúc vua Quang Trung c̣n sống, bà thường giảng giải kinh điển cho nhà vua nghe. Vua Quang Trung cử hành lễ Tứ tuần Vạn thọ Khánh tiết, bà dâng bài biểu mừng như sau:

"Tư ngộ thiên thọ khánh tiết, thanh thiên ứng luật, hôn chử tại th́. Ngọc thụ phiêu hương, bích đào hiến trường sinh chi quả; ngân thiềm thổ diễm, băng hồ khai phục đán chi hoa. Tử ái nùng nhi khuê các đằng phương, thụy khí sảng nhi vu huy tăng sắc. Cẩn phụng biểu xưng hạ giả. Phục dĩ thụy khí trinh tường, thông uất phụng lân chi thái; quang thiên xiển lăng, chiếu hồi Dực chẩn chi hư, Quế điện truyền hương; tiêu đ́nh dật khánh. Khâm duy Hoàng đế Bệ hạ, tài cao thiên cổ, đức phối lưỡng nghi. Cung thiên phi chấn vũ công. Tây thổ bí hưng vương chi sự nghiệp; th́ hạ tứ trần ư đức, đông giao hoàn định quốc chi qui mô. Xích nhật minh nhi ngung nhược hữu phu; thọ tinh diệu nhi chiêm y cọng ngưỡng. Thần Xu điện nhiễu quang phù Vạn Thọ chi bôi; xương hạp vân khai dinh triệt thiên thu chi kính. Tứ tự thường điều ngọc chúc, ức niên vĩnh điện kim âu.Thần đức thiểm Quan thư, nhân tàm Cưu mộc. Trung khổn cận bồi chẩn tọa, bái chiêm bát thiên xuân sơ kỷ chi tiên trù; nội đ́nh mật nhĩ thiều âm, cẩn chúc thiên vạn tuế vô cương chi đỉnh tộ."

(Nay gặp khánh tiết mừng tuổi thọ của Hoàng đế, khúc nhạc Thanh thương ứng luật hợp tiết, cồn hoa đang độ. Cây ngọc đưa hương, cây bích đào dâng quả trường sinh; trăng bạc nhả ánh trăng trong, hồ băng lại nở hoa buổi sáng. Mây mù sắc tía nồng đượm mà khuê pḥng hương nức; khí lành sáng tỏ mà áo xiêm thêm màu. Kính cẩn dâng bài biểu chúc mừng. Cúi lấy khí lành tŕnh điềm tốt, tưng bừng màu sắc con phụng con lân; đầy khắp thiên hạ chiếu về cơi hư không sao Dực sao Chẩn. Điện quế truyền hương; sân tiêu tràn điều mừng.Kính nghĩ Hoàng đế Bệ hạ, tài cao thiên cổ, đức hợp với Trời và Đất. Cung kính thi hành sự trừng phạt của Trời lớn lao chấn động vũ công, đất Tây Sơn đẹp đẽ hưng sự nghiệp đế vương; trần bày đức đẹp vào bản nhạc ca vĩ đại, ở cơi giao phía đông đă định xong qui mô của nước nhà. Mặt trời đỏ rạng mà nghiêm đáng tin (quẻ quan); sao thọ tinh chiếu sáng mà thiên hạ đều cùng ngưỡng lên trông mong nương tựa (thiên Tiểu biền, phần Tiểu nhă trong Kinh Thi). Sao xu của Bắc đẩu điện vây, ánh sáng nổi lên chen mừng Vạn thọ; cửa Trời mây mở, sắc trong thấu triệt mặt kính ngàn thu. bốn mùa thường điều hoà khiến cái đức của vua đẹp như ngọc sáng như đuốc; trong ức năm măi vững chiếc lọ vàng.

          Hạ thần đức thẹn với thơ Quan Thư, nhân ngượng với thơ Cưu mộc. Trong nội thất theo hầu kề cùng ngồi mặc đồ lộng lẫy, vái mong tính theo tuổi thiên niên kỷ khởi đầu của tuổi Bệ hạ một mùa xuân tám ngàn năm; chốn nội đ́nh kề sát nghe nhạc thiều, ân cần chúc phước của quốc gia được ngàn muôn năm vô hạn)
(Nam Phong Tạp chí, số 103, năm 1926, phần Hán văn, bản dịch của Tạ Quang Phát)

          Công chúa Lê Ngọc Hân vừa thông Hán tự, vừa giỏi quốc văn. Lúc hoàng đế Quang Trung băng hà vào ngày 15 tháng 9 năm 1792, bà mới có 22 tuổi. Bà chỉ mới chung sống với nhà vua vỏn vẹn có 6 năm trời, có được hai mặt con. Làm sao có thể tưởng tượng hết tâm trạng thống khổ của bà lúc bấy giờ. Rất may cho hậu thế là bà có soạn một bài văn tế bằng quốc âm để tế nhà vua. Trong nỗi bất hạnh lớn lao của công chúa Lê Ngọc Hân là cái may mắn tột cùng của nền văn học nước nhà. Bà đă để lại cho đời sau bài Ai Tư Văn mà tất cả chúng ta đều đă biết. Tuy không thể so sánh ngang hàng với truyện Kim Vân Kiều hay Khúc Ngâm Chinh Phụ, nhưng bài Ai Tư Văn cũng là một áng văn rất đáng trân trọng, cũng là một vật báu trong kho tàng văn học nước nhà. Trong bài điếu văn có nhiều câu nhiều chữ đọc lên như oán như than, khiến người thưởng lăm cũng thấy nao ḷng. Phải là người trong cuộc, và tâm hồn hết sức tinh tế, t́nh cảm hết sức bén nhảy, mới có thể giải bày tâm trạng bi thương thành những lời thơ năo nùng diễm tuyệt nhường ấy! Nỗi buồn nào lê thê bằng nỗi buồn của người góa phụ c̣n trẻ đau đớn than van về cái chết đột ngột của người chồng vương giả tài cao mà mện đoản:

Khi trận gió hoa bay thấp thoáng
Ngỡ hương trời bảng lảng c̣n đâu
Vội vàng sửa áo lên chầu
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng!

và niềm xót xa nào bi thiết hơn niềm xót xa của người mẹ trẻ v́ thương con c̣n trứng nước mà chưa thể liều thân cjo vẹn chữ ṭng:

Quyết liều mong vẹn chữ ṭng
Trên rường nào ngại, giữa gịng nào e
C̣n trứng nước thương v́ đôi chút
Chữ thân t́nh chưa thoát được đi

          Công chúa Lê Ngọc Hân là người tài sắc vẹn toàn. Bà sinh trưởng nơi chốn điện ngọc đền vàng, đă là công chúa con vua lại lấy chồng làm vua. Sau khi Hoàng đế Quang Trung băng hà, Hoàng thái tử Quang Toản lên kế vị, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh. Tuy vua Cảnh Thịnh là con của bà Vũ hoàng Chính hậu họ Phạm, nhưng lúc bấy giờ bà này đă mất, nên công chúa Lê Ngọc Hân được tôn lên ngôi vị Hoàng Thái hậu. Hơn nữa, bà lại c̣n là chị ruột của công chúa Lê Ngọc B́nh lúc bấy giờ là Hoàng hậu vợ vua Cảnh Thịnh. Trong chốn nội đ́nh, địa vị của bà như vậy có thể nói là tột cùng tôn quí. Tuy nhiên, trong thời gian vua Cảnh thịnh mới lên ngôi, quyền lực trong triều bị thu tóm vào tay Thái sư Bùi Đắc Tuyên và gia đ́nh họ Bùi, gây nên t́nh trạng bè phái chia rẽ, và công chúa Lê Ngọc Hân đă rất đỗi đau ḷng.

          Thật vậy, nhóm quyền thần gốc B́nh Định của Thái sư Bùi Đắc Tuyên và Thái phó Trần Quang Diệu đă chèn ép các bề tôi cũ của vua Quang Trung gốc Thuận hóa và Bắc Hà, gây nên việc Trần Văn Kỷ bị đi đày. Ngô Văn Nhậm, Phan Huy Ích bị thất sủng, khiến Ngô Văn Sở bỏ chạy theo Nguyễn vương, tất cả những điều đó đă làm cho cuộc sống công chúa Lê Ngọc Hân phải trải qua một giai đoạn giao động. Nhưng sau cuộc chỉnh lư của Tư đồ Vơ Văn Dũng, cha con Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ bị trầm hà, phe phái lộng thần bị dẹp tan, triều đ́nh trở lại ổn định, bên trong Tư đồ với Thái phó giảng ḥa, bên ngoài dân chúng liên tiếp mấy năm được mùa, th́ nỗi ḷng công chúa Lê Ngọc Hân cũng vơi bớt chút ưu tư về thế cuộc, chỉ c̣n chĩu nặng niềm thương nhớ người chồng tài cao mà mệnh đoản:

Theo buổi trước ngự đèo Bồng Đảo
Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân
Theo xa xôi lại theo gần
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa.

và nỗi xót xa hai đứa con c̣n trứng nước sớm lâm cảnh côi cút mà thôi:

Gót lân chỉ mấy hàng lẩm chẩm
Đầu mũ mao ḿnh tấm áo gai
U ơ ra trước hương đài
Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào.

          Năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, hưởng dương 29 tuổi. Lễ bộ Thượng thư Đoan Nham hầu Phan Huy Ích phụng chỉ soạn bài văn tế cho Hoàng đế Cảnh Thịnh đích thân đọc trước linh sàng Hoàng thái hậu họ Lê. Bà được truy tặng là Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Bài văn tế này đă được Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm t́m thấy và công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà nội.

          Vậy rơ ràng công chúa Lê Ngọc Hân đă mất tại Phú Xuân, đương triều vua Cảnh Thịnh. Tuy vậy, chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân vẫn là một đề tài cho nhiều câu chuyện thành văn hoặc truyền khẩu khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau là đằng khác. Nguyên do là sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, con cháu nhà Tây Sơn bị tuyệt diệt, các tài liệu về nhà Tây Sơn bị cấm tàng trữ, nên chẳng c̣n ai có cơ hội và phương tiện nghiên cứu thân thế và sự nghiệp các nhân vật thời Tây Sơn một cách chính xác và rơ ràng. Các tài liệu về nhà Tây Sơn được lưu hành chỉ thuần một loại là các sử liệu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn mà thôi. Hơn nữa, những người đặt chuyện dă sử lại có thói quen dệt gấm th́ thường thêm hoa, để cho câu chuyện đượm phần ly kỳ hấp dẫn. Bởi những lẽ đó mà chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân được kể lại trong các câu chuyện thành văn hay truyền khẩu đă không đúng với sự thật. Không có câu chuyện nào kể rằng công chúa Lê Ngọc Hân đă chết khi nhà Tây Sơn đang c̣n trị v́ ở Phú Xuân. Ngay cả việc ông Hoa Bằng trên tạp chí Tri Tân năm 1943 xuất bản tại Hà nội đă công bố bài Văn tế Vũ Hoàng hậu do Phan Huy Ích phụng chỉ vua Cảnh Thịnh viết để nhà vua đích thân đọc trước linh sàng công chúa Lê Ngọc Hân, cũng chẳng thay đổi được t́nh trạng ngộ nhận nói trên. Từ 1943 đến nay, các huyền thoại về công chúa Lê Ngọc Hân truyền tụng trong dân gian cũng như các truyện dă sử viết về chung cục công chúa Lê Ngọc Hân xuất hiện trên sách báo vẫn cứ một chiều đi theo con đường cũ sai lạc bấy lâu nay. Những truyền thuyết và chuyện dă sử về công chúa Lê Ngọc Hân từ trước đến nay có thể xếp vào hai loại. Loại thứ nhất nói rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa Lê Ngọc Hân đă đưa hai con đi trốn, sống trà trộn trong dân chúng được một thời gian rồi rốt cục cũng bị phát hiện và bị giải về Huế xử cực h́nh. Loại thứ hai nói rằng sau khi diệt nhà Tây Sơn, vua Gia Long đă sách lập công chúa Lê Ngọc Hân làm Đệ Tam cung, và bà đă có hai con với nhà vua là các hoàng tử Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương mà từ đường đến nay vẫn c̣n ở ngoại ô thành phố Huế.

          Những truyền thuyết và chuyện dă sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc loại thứ nhất th́ đại thể về nội dung đều giống nhau, có khác biệt là chỉ khác biệt về địa điểm đi lánh nạn mà thôi. Sau khi nhà Tây Sơn mất, công chúa Lê Ngọc Hân đem hai con chạy trốn vào Quảng nam, sống trà trộn trong dân chúng được một thời gian, cuối cùng bị phát hiện, bị bắt đưa về Phú Xuân và bị xử án tam ban triều điển.

          Nhiều truyền thuyết khác th́ nói rằng công chúa Lê Ngọc Hân đem các con chạy trốn vào quê chồng ở B́nh Định, rồi cũng bị bắt và cũng bị xử cực h́nh như đă nói ở trên. Trong những thập niên 60, 70 lại có những câu chuyện ly kỳ hơn về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân, cả thành văn lẫn truyền khẩu, theo đó th́ công chúa Lê Ngọc Hân đă mang các con chạy trốn vào tận Đồng nai Gia định, nhờ đó mà tránh được tai mắt và nanh vuốt kẻ thù. Nhiều câu chuyện truyền miệng lại c̣n đi xa hơn, kể rằng sau khi nuôi dạy các con khôn lớn nên người, công chúa đă thí phát, tu hành đắc đạo và trở thành Giáo chủ của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Nhiều người trong Nam mang họ Nguyễn lại tự nhận là hậu duệ của Hoàng tử Nguyễn Văn Đức - con Đại đế Quang Trung và Vũ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Gần đây, ở hải ngoại lại có một vài tác giả viết dă sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân, viết rằng sau khi Đông đô thất thủ, nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa đă đem hai con chạy trốn về một vùng quê hẻo lánh ở Hải dương, sống lén lút trà trộn trong dân chúng được một thời gian rồi rút cục cũng bị phát hiện, bị bắt và bị giải về Phú Xuân lănh án tử h́nh.

          Tất cả những câu chuyện về chung cục bi thương huyền hoặc của công chúa Lê Ngọc Hân là hoàn toàn không phù hợp với sự thật lịch sử bởi một lẽ giản đơn và rơ ràng là công chúa Lê Ngọc Hân đă chết khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi. Công chúa Lê Ngọc Hân mất vào năm 1799, dưới triều vua Cảnh Thịnh, nghĩa là trước khi kinh thành Phú Xuân thất thủ. Công chúa Lê Ngọc Hân đă được truy tặng là Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Công chúa Lê Ngọc Hân đă được ma chay tống táng tại kinh thành theo đúng nghi thức vương giả dành cho một bậc mẫu nghi thiên hạ. Bằng chứng hùng hồn là bài văn tế Vũ Hoàng Hậu t́m thấy trong Dụ Am Văn Tập của Phan Huy Ích mà Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đă công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà nội. Công chúa Lê Ngọc Hân đă chết đương thời vua Cảnh Thịnh trị v́ th́ làm ǵ có câu chuyện công chúa Lê Ngọc Hân phải lâm cảnh bôn ba lưu lạc sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi.

          Về phần hai người con của công chúa Lê Ngọc Hân th́ một nhà truyền giáo Tây phương thời bấy giờ tên là L. Barizy đă cho biết là cả hai đều bị Nguyễn vương bắt lúc thành Phú Xuân thất thủ, không kịp chạy theo vua Cảnh Thịnh ra Bắc hà. Giáo sĩ L. Brarizy đă nhận diện và không tiếc lời ca ngợi khuôn mặt tuấn tú và thái độ cứng cỏi của hai đứa trẻ khi bị xử tử h́nh vào năm 1802, cùng một lần với vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản. Như vậy, hai người con của công chúa Lê Ngọc Hân đều đă bị yểu vong th́ làm ǵ có câu chuyện hậu duệ của công chúa c̣n nối dơi tới bây giờ.

          Các truyền thuyết và truyện dă sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc loại thứ hai so với những câu chuyện trên đây th́ ly kỳ hơn và chứa đựng nhiều t́nh tiết hư cấu xoay quanh các sự kiện lịch sử có thật. Thí dụ có chuyện kể rằng đầu năm Tân Dậu 1801, Nguyễn vương theo kế sách "Tượng kỳ khí xa" của Nguyễn Văn Thành, đă bỏ rơi Vơ Tánh bị vây trong thành B́nh Định để đem toàn lực ra đánh úp Phú Xuân. Ngày mồng 1 tháng 5 năm Tân Dậu, Nguyễn vương vào cửa Tư Dung, đến tối vượt phá Hà trung tiến chiếm bến đ̣ Trừng Hà, ngày hôm sau đánh tan quân của vua Cảnh Thịnh ở cửa Eo và sáng ngày mồng 3 tháng 5 đem đại binh vào thành Phú Xuân dụng quân thần tốc đến độ vua Cảnh Thịnh thua chạy không kịp mang theo gia quyến. Tối hôm mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu, Nguyễn vương đi tuần tra trong thành và đă gặp người thiếu phụ vương giả để rồi nên duyên vợ chồng.

         Lại có chuyện kể rằng khi vua Gia Long quyết định sách lập công chúa Lê Ngọc Hân làm Đệ Tam cung, triều thần có người can gián, cho rằng công chúa chỉ là vật dư thừa của Tây Sơn, và nhà vua đă trả lời rằng chúng ta tiêu diệt Ngụy Tây th́ giang san này, thành quách này, nhất nhất há chẳng phải lấy lại từ tay Ngụy Tây hay sao, như thế cũng là vật dư thừa của Tây Sơn vậy. Lại có chuyện kể rằng sau khi vua Gia Long băng hà, Quảng Oai công yểu tử, Thường Tín Quận vương đă lập phủ đệ riêng, th́ Đệ Tam cung Lê Ngọc Hân lui về dưỡng già tại quê mẹ ở Bắc ninh cho đến lúc lâm chung. T́nh cảnh công chúa "vinh diệu một đời có thể nói là cùng tột, thế mà trong những ngày xế bóng lưu lạc nơi quê ngoại, tưởng tới chuyện xưa cảnh cũ, há chẳng nao ḷng mà than thở cho Tạo vật đă khéo trêu ngươi, không có việc ǵ lại không xảy ra được khiến phát sinh nỗi cảm khái vô cùng cho cuộc sống phù du!"

(Hậu hứa Bắc quy tùng mẫu thị hương quán trú ư Bắc ninh nhi chung yên. Khảo chúa tiểu tắc vi hoàng nữ, trưởng tắc vi hoàng hậu, kế vị hoàng thái hậu. Kỳ nhất sinh chi vinh diệu khả vị cực hỉ. Cập kỳ văn niên bất miễn ư lưu lạc, tưởng Chúa ư thử th́ phủ kim tư tích, xúc cảnh hưng hoài, ninh bất trướng nhiên thán Tạo vật chi lộng nhân, mỹ sở bất chí, nhi sinh vô cùng chi cảm khái tai!)

(Ngọc Hân công Chúa dật sự, Nam Phong Tạp chí, số 103, 1926)

          Nhưng độc đáo hơn hết, phải kể đến bản gia phả của họ Nguyễn hoàng tộc. Đó là cuốn Hoàng Triều Ngọc Phả, bản quốc ngữ, do Tôn Nhân Phủ biên soạn và ấn hành dưới triều vua Thành Thái. Trong cuốn sách này, ở các chương nói về Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương con vua Gia Long, rơ ràng mẹ đẻ của ngài được ghi là Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Thật là rơ ràng và chính xác như một cộng một là hai, như hai cộng hai là bốn, không c̣n bàn căi ǵ nữa cả. Người viết đă chính mắt được đọc những ḍng chữ đó vào năm 1988 tại nhà nhạc phụ, sách do ông Tôn Thất Yên đưa cho mượn. Ông Tôn Thất Yên lúc bấy giờ là người được hội đồng Nguyễn Phước tộc ủy thác điều hành công việc thường ngày của Hội đồng Nguyễn Phước tộc ở Sài g̣n, và được hội Trung Việt Ái hữu ủy thác trông nom quản lư nghĩa trang G̣ Dưa, Thủ đức.

          Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương là những nhân vật có thật, tuy rằng Quảng Oai công yểu tử và Thường Tín Quận vương ngày nay không có con cháu nối ḍng, nhưng từ đường các ngài hiện nay ở vùng ven đô Huế vẫn c̣n hương khói, các bài phiên hệ thi về phần các ngài vẫn c̣n được truyền tụng, v́ vậy việc gia phả hoàng tộc do Tôn Nhân Phủ ấn hành ghi rằng mẹ đẻ các ngài đích thị là công chúa Lê Ngọc Hân là một sự kiện không thể không lấy làm trọng yếu hàng đầu trong việc nghiên cứu chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân.

          Vậy th́ vấn đề được đặt ra là công chúa Lê Ngọc Hân có lấy vua Gia Long hay không. Nếu công chúa Lê Ngọc Hân không lấy vua Gia Long th́ không c̣n có vấn đề công chúa Lê Ngọc Hân được sách lập làm Đệ Tam cung, cũng như không c̣n có sự kiện công chúa Lê Ngọc Hân là mẹ đẻ các hoàng tử Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương. Mà chúng ta đă biết địch xác là công chúa Lê Ngọc Hân chết vào năm 1799, dưới triều vua Cảnh thịnh, khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi, vậy th́ khi vua Gia Long tiến quân vào thành Phú Xuân tháng 5 năm Tân Dậu, dương lịch 1801, th́ công chúa Lê Ngọc Hân đă mất trước đó hai năm, h́nh hài đă nằm sâu dưới ḷng đất lạnh, th́ làm sao sống lại kết duyên vợ chồng với v́ vua chiến thắng. Bởi lẽ đó, những câu chuyện thêu dệt chung quanh việc công chúa Lê Ngọc Hân lại một lần nữa lấy chồng vua là hoàn toàn không có căn cứ, là hoàn toàn sai sự thật.

          Nhưng c̣n cuốn ngọc phả bản quốc ngữ của Tôn Nhân Phủ đă khẳng định công chúa Lê Ngọc Hân là mẹ đẻ của Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương? Xin thưa ngay rằng cuốn gia phả này là bản quốc ngữ, không phải bản hán văn, lại không phải do Quốc sử quán biên soạn mà là tác phẩm phiên dịch của Tôn Nhân Phủ từ bản hán văn cũng của Tôn Nhân Phủ mà ra, mà bản hán văn này th́ trong các chương nói về Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương đă viết rằng mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Cái lối hành văn cổ điển bằng Hán tự th́ có khi nào nêu rơ tục danh đâu. Mà tác giả bản Hán văn khi viết rằng mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, th́ đă chắc đâu muốn khẳng định rằng đó là công chúa Lê Ngọc Hân. Biết đâu tác giả bản Hán văn muốn nói đến một nàng công chúa Lê Ngọc khác, cũng con vua Hiển tông nhà Hậu Lê? Mà điều này th́ những người phiên dịch ra quốc ngữ đă không hề hay biết, lại thêm nặng t́nh tân học, viết lách tŕnh bày việc ǵ cũng muốn tách bạch rơ ràng nên đă phiên dịch nhóm chữ "Công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển tông" thành "Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Hiển Tông" theo sở kiến chủ quan của ḿnh.

          Như vậy rơ ràng hai hoàng tử Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương, con vua Gia Long, đích thực là cháu ngoại vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Chỉ v́ bản quốc ngữ do sở kiến chủ quan của người phiên dịch đă khẳng định mẹ đẻ hai ngài là công chúa Lê Ngọc Hân thay v́ cứ để là công chúa Lê Ngọc như nguyên bản hán tự, nên mới nảy sinh ra điểm phi lư là người đă chết mấy năm trước đó bây giờ c̣n đâu mà lại lần nữa đi lấy chồng để rồi sinh đậng hai con trai. Lại nữa cuốn Hoàng Triều Ngọc Phả của Tôn Nhân Phủ là gia phả thành văn của Nguyễn Phước tộc, là tài liệu chính thức về phả hệ hoàng phái, không thể nào được trước tác tùy tiện và thiếu chính xác được. Bởi vậy, Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương đích thực là cháu ngoại vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, mẹ là công chúa Lê Ngọc, nên trong gia phả mới ghi chép rơ ràng như vậy. cũng không thể có trường hợp thấy sang bắt quàng làm họ, thấy công chúa con vua lá ngọc cành vàng bèn nhận càng là bên ngoại cho thêm phần vẻ vang, bởi một lẽ giản đơn họ Nguyễn cũng là đại quư tộc, đă ở ngôi chúa Nam Hà ba trăm năm rồi, và hiện tại đang giữ ngôi vua thống nhất thiên hạ.cho nên một khi mà Hoàng Triều Ngọc Phả của Tôn Nhân Phủ đă ghi chép như vậy th́ Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương con của vua Gia Long đích thực là cháu ngoại vua Hiển tông nhà Hậu Lê. Nhưng nếu đă khẳng định rằng mẹ đẻ của Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương không phải là công chúa Lê Ngọc Hân th́ đương nhiên phải nêu vấn đề mẹ đẻ các ngài là công chúa con vua, cũng đă có một đời chồng trước là chồng vua, bây giờ lấy đời chồng hai là vua Gia Long sinh hạ được hai hoàng tử. Mẹ đẻ của các ngài quả là một nhân vật dị thường đúng như lời truyền tụng của nhân gian trong gần hai trăm năm nay:

Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua.

          Con vua là con vua Lê Hiển tông nhà Hậu Lê. Hai đời chồng vua th́ đời chồng vua trước là vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, c̣n đời chồng vua thứ hai là vua Gia Long, vua sáng nghiệp nhà cựu Nguyễn. Bà là công chúa Lê Ngọc B́nh, công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, em ruột công chúa Lê Ngọc Hân, là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, Đệ Tam cung vua Gia Long nhà cựu Nguyễn, mẹ đẻ các hoàng tử Quảng Oai công "sinh năm 1809" và Thường Tín Quận vương "sinh năm 1810".

          Thân thế và sự nghiệp hai bà Lê Ngọc Hân và Lê Ngọc B́nh có nhiều điểm tương đồng, mà những điểm tương đồng đó lại là những điểm rất căn bản. Hai bà đều là công chúa con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, hai bà đều sinh trưởng ở ngoài Bắc, nghĩa là cả hai đều là công chúa Đông đô. Lớn lên hai bà đều lấy chồng trong Trung, chồng của hai bà đều là hoàng đế nhà Nguyễn Tây Sơn, nghĩa là cả hai bà đều là Hoàng hậu Phú Xuân. Do những điểm tương đồng căn bản đó mà những câu chuyện truyền tụng về cuộc đời hai bà đan kết vào nhau, theo với không gian và thời gian mà dần dà thay đổi, để rồi lẫn lộn với nhau, cuối cùng th́ chuyện có thật về người này trở thành chuyện huyền thoại của người kia. Nói rơ hơn, công chúa Lê Ngọc Hân chỉ lấy chồng một lần, c̣n công chúa Lê Ngọc B́nh, sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, mới được vua Gia Long sách lập làm Đệ Tam cung, mới là người phụ nữ lạ thường "con vua lại lấy hai đời chồng vua".

          Điều đáng lưu ư là chính sử nhà Cựu Nguyễn không nói ǵ về công chúa Lê Ngọc B́nh, c̣n các sử liệu liên quan đến nhà Nguyễn Tây Sơn th́ tất nhiên dưới triều nhà cựu Nguyễn đă không được lưu hành, tàng trữ. Lại nữa, sự nghiệp của hai hoàng đế Quang Trung và Cảnh Thịnh khác biệt nhau một vực một trời, cho nên sử Tàu, sử ta trong Nam, ngoài Bắc, đâu đâu cũng nói nhiều về vua cha mà ít khi đề cập đến vua con, do đó mà có hệ luận tất yếu là những ǵ liên quan đến vua cha th́ người đời đều biết nhiều hơn những ǵ liên quan đến vua con. Bản thân công chúa Lê Ngọc Hân cũng có nhiều điểm sắc sảo lanh lợi hơn công chúa Lê Ngọc B́nh, nhất là công chúa Lê Ngọc Hân đă thông Hán tự lại c̣n giỏi quốc âm, nổi tiếng v́ bài Ai Tư Văn. Bởi các lẽ đó mà từ trước đến nay chúng ta chỉ nghe nói đến công chúa Lê Ngọc Hân mà không nghe ai đề cập đến công chúa Lê Ngọc B́nh. Chỉ từ sau năm 1975, ty thông tin Văn hoá Nghĩa B́nh ấn hành và phổ biến một số tài liệu liên quan đến thân thế và sự nghiệp các nhân vật đời Tây Sơn, chúng ta mới bắt đầu chú ư các nhân vật như Lê Ngọc B́nh, là công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê và là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản.

          Theo các tài liệu do ty Văn hóa Nghĩa B́nh công bố, vua Cảnh Thịnh và công chúa Lê Ngọc B́nh đồng trang lứa với nhau. Vua Cản Thịnh sinh năm 1783, đúng như Đại Nam Chính Biên Liệt truyện và các phúc tŕnh của các giáo sĩ Longer và Le Labousse gởi cho Phái bộ Truyền giáo Nam Hà đă ghi chép. Như vậy, ngày công chúa Lê Ngọc Hân vầy duyên cá nước với Tiết chế Nguyễn Huệ (1786) th́ công chúa Lê Ngọc B́nh mới có 4 tuổi. Đến năm Bính Ngọ (1792), vua Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh lên nối ngôi, cả nhà vua lẫn công chúa mới được 10 tuổi. Thời gian này cả hai đang ở tuổi trúc mă thanh mai. Những năm tiếp theo là những năm Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền nên chắc chắn là công chúa Lê Ngọc Hân dù đă có ư định vẫn chưa thể thực hiện việc kết hợp sắt cầm cho em gái với con chồng. Phải đợi đến sau chính biến năm Ất Măo (1795), phe cánh Thái sư Bùi Đắc Tuyên bị dẹp tan, công chúa Lê Ngọc Hân mới có điều kiện thu xếp đưa em gái lên ngôi Chính cung Hoàng hậu.

          Lúc này, các bề tôi thân tín lục tục trở về triều, công chúa Lê Ngọc Hân củng cố lại thế lực trong chốn nội đ́nh và có ảnh hưởng quyết định đến công việc triều đ́nh, th́ cũng là lúc công chúa Lê Ngọc B́nh vừa được 13 tuổi. Như vậy, công chúa Lê Ngọc Hân đối với công chúa Lê Ngọc B́nh th́ vừa là chị ruột, vừa là mẹ chồng. Cả hai đều là công chúa Đông đô con vua Hiển tông nhà Hậu Lê. Cả hai đều trở thành Hoàng hậu Phú Xuân, công chúa Lê Ngọc Hân là Bắc cung Hoàng hậu của Thái tổ Vũ Hoàng đế, công chúa Lê Ngọc B́nh là Chính cung Hoàng hậu của vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản. Đến năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, công chúa Lê Ngọc B́nh vừa được 17 tuổi. Đến năm Tân Dậu (1801), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 9, kinh thành Phú Xuân thất thủ, vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc hà không kịp mang theo gia quyến, th́ công chúa Lê Ngọc B́nh chỉ có 19 tuổi, nếu tính tuổi theo lối ngày nay th́ công chúa Lê Ngọc B́nh chỉ mới 18 tuổi mà thôi. Chính vào thời điểm này Đại Nguyên súy Tổng Quốc chính Nguyễn Phúc Ánh gặp công chúa Lê Ngọc B́nh và năm sau, tức là năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn vương lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, và sắc phong công chúa Lê Ngọc B́nh là Đệ Tam cung, năm ấy công chúa Lê Ngọc B́nh vừa tṛn 20 tuổi.

          Tuy nhiên, vẫn c̣n một vấn đề cần nêu lên là một sự kiện trọng yếu, rơ ràng và chính xác nhường ấy mà tại sao chính sử nhà Nguyễn lại không đề cập đến? Xin thưa ngay rằng các sử thần nhà Nguyễn trước nay vẫn lược qua không ghi chép những sự kiện lịch sử không phù hợp với quan điểm chính thống của ư thức hệ phong kiến phương Đông. Thí dụ rơ ràng nhất là trường hợp Công nữ Ngọc Vạn con chúa Hy Tông, gả làm Hoàng hậu cho vua Chân lạp Chey Chetta II vào năm 1620, mở đầu việc chính quyền chúa Nguyễn kinh dinh đất Prey Kôr, tức là Sài g̣n Chợ lớn sau này. Sự nghiệp của Công nữ Ngọc Vạn ở Cao Mên cũng như công trạng của Công nữ Ngọc Vạn đối với dân tộc Việt Nam đem so sánh với sự nghiệp và công trạng của Công chúa Huyền Trân đời Trần th́ to lớn hơn nhiều lần, thế mà chính sử nhà Nguyễn, v́ tinh thần tự tôn dân tộc nghĩ rằng việc gả con gái cho người nước ngoài là việc không đẹp, nên về thân thế th́ ghi là "khuyết truyện", c̣n về sự nghiệp th́ đă không chép được một câu.

          Trong những trường hợp khác th́ sử thần nhà Nguyễn giấu nhẹm những sự kiện lịch sử mà luân lư phong kiến phương Đông cho là đi ngược với đạo lư. Thí dụ như trường hợp chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần là con chúa Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát với một bà công nữ em con chú con bác với chúa Vơ vương. Việc hợp hôn như vậy theo quan điểm Á đông là loạn luân, bởi thế chính sử nhà Nguyễn đă không đả động đến chuyện đó, mặc dù sự kiện này vô cùng trọng đại đối với tương lai vương nghiệp nhà cựu Nguyễn, v́ đă mở đầu cho việc chúa Vơ vương bỏ trưởng lập thứ đưa đến việc Trương Phúc Loan chuyên quyền và anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa, khiến cơ nghiệp họ Nguyễn chút nữa th́ tiêu vong, ḍng dơi họ Nguyễn chút nữa th́ tuyệt diệt.

          Vậy th́ đă lại tái diễn việc chính sử nhà Nguyễn lược qua không đả động đến dữ kiện Hoàng đế Gia Long sách lập công chúa Lê Ngọc B́nh con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, nguyên Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, làm Đệ Tam cung. Lư do cũng vẫn là ư thức hệ phong kiến nho giáo ràng buộc người phụ nữ vào tứ đức tam ṭng, chồng chết th́ chết theo chồng hoặc ở vậy chứ không được lấy chồng khác. Lư do cũng vẫn là ư thức hệ phong kiến nho giáo ràng buộc người nam nhi khi xuất khi xử luôn luôn phải tuân thủ đạo nghĩa tam cương ngũ thường, phân biệt minh bạch chính thống và tà ngụy. Bởi vậy, sử thần nhà Nguyễn đă cho rằng chuyện công chúa Lê Ngọc B́nh vốn là người cũ của Ngụy Tây mà được sách lập làm Đệ Tam cung là chuyện không đẹp, nên lược qua không đề cập đến, thái độ này phản ánh dư luận đa số các giới phong kiến nho sĩ đương thời mà rơ nét nhất là những câu chuyện truyền tụng về những lời lẽ của triều thần can gián nhà vua.

          Tuy nhiên, những lư lẽ phản bác rất chính đáng của vua Gia Long cũng lại đă cho thấy ư chí không thể lay chuyển trong quyết định sách lập công chúa Lê Ngọc B́nh làm Đệ Tam cung. Hành động của vua Gia Long không phải là hành động của con người b́nh thường tiếc ngọc thương hoa, cho dù công chúa Lê Ngọc B́nh có là công chúa con vua, trẻ đẹp, tuổi tác chưa được hai mươi. Hành động của vua Gia Long là hành động đă suy tính kỹ lưỡng, không v́ t́nh nhi nữ nhỏ mọn ở chốn pḥng khuê mà v́ quyền lợi tối thượng của phe nhóm, của ḍng họ, của triều đ́nh, của chính nghĩa, của quốc gia đại sự. Thật thế, vua Gia Long tuy đă thống nhất đất nước, thu Nam Bắc về một mối nhưng ḷng người Bắc hà vẫn c̣n tưởng nhớ nhà Lê. Song song với việc thiết lập cơ chế Bắc thành Tổng trấn, cho địa phương được tự trị rộng răi, cũng như song song với việc lục dụng con cháu nhà Lê vào các cơ quan nhà nước, tùy tài khiển dụng không phân biệt Nam Bắc, mới cũ, việc sách lập một công chúa Bắc hà con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê vào một địa vị tôn qúy ở chốn nội đ́nh là một hành động tâm lư chiến sâu sắc của một chính trị gia bậc thầy, một hành động có tính toán kỹ lưỡng và khôn ngoan tuyệt cùng.

          Tóm lại việc nhà vua Gia Long sách lập công chúa Lê Ngọc B́nh, công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, Hoàng hậu vợ vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, làm Đệ Tam cung là một sự kiện lịch sử có thật rơ ràng và chính xác, mặc dù chính sử nhà Nguyễn không đề cập đến. Công chúa Lê Ngọc B́nh là em ruột công chúa Lê Ngọc Hân. Cả hai đều là công chúa Đông đô, đều được sắc phong Hoàng hậu Phú Xuân. Nhiều câu chuyện truyền tụng trong dân gian đều thêu dệt chung quanh cuộc đời hai bà đan kết vào nhau, lẫn lộn vào nhau, thay đổi dần dà với thời gian và không gian, và đặc biệt là không mấy ai biết đến công chúa Lê Ngọc B́nh mà chỉ biết có công chúa Lê Ngọc Hân thôi, nên cuối cùng, có nhiều chuyện đời thực của bà này lại trở thành huyền thoại về bà kia.

          Vậy từ nay chúng ta hăy dứt khoát khẳng định sự kiện công chúa Lê Ngọc Hân chỉ có một đời chồng, và chung cục của bà vẫn là giàu sang tôn quư. Bà là Bắc cung Hoàng hậu của vua Quang Trung, và bà đă chết dưới triều vua Cảnh Thịnh, khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi. C̣n người phụ nữ lạ thường đă là công chúa con vua lại lấy hai đời chồng vua là công chúa Lê Ngọc B́nh, em ruột công chúa Lê Ngọc Hân. Công chúa Lê Ngọc B́nh là con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, có đời chồng thứ nhất là vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn và đời chồng thứ hai là vua Gia Long nhà cựu Nguyễn, đúng như câu ca dao trong dân gian vẫn c̣n truyền tụng đến ngày nay:

Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua.

        Minh Vũ HỒ VĂN CHÂM
          Giai phẩm Xuân TÂY SƠN Mậu Dần 1998

Source : www.lebichson.net

 

 

 

            http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/tanman/2008/01/764572/

 

“Mỹ Tho của ḿnh” – nỗi nhớ và mong muốn

11:56' 17/01/2008 (GMT+7)

QUỲNH LỆ

 

H́nh như trong tôi lúc nào cũng âm thầm và bàng bạc một nỗi nhớ về vùng đất có tên gọi Mỹ Tho. Nỗi nhớ cứ lung linh theo năm tháng với những kỷ niệm của cả quảng đời làm học sinh tiểu học rồi trung học thấm đẫm những t́nh cảm yêu thương mộc mạc và trong trẻo của gia đ́nh, người thân, bạn bè, thầy cô, làng xóm… Những sợi nhớ mơ hồ ấy lặng lẽ chảy trong huyết quản và có thể trổi dậy mạnh mẽ khi có ai nhắc đến tên Mỹ Tho. Nhất là vào tiết tháng Chạp, khi mọi người xa quê đều hướng ḷng về quê cũ...

 

Sáng nay, tôi mở máy vi tính, vào trang Google, thử gơ “thành phố Mỹ Tho” … và thật bất ngờ - trên mạng internet đă xô lên 188.000 trang web có cụm từ ấy. Thế là tôi lang thang trên mạng và lạc vào thế giới “Mỹ Tho của ḿnh”.

 

1. T́m về nguồn cội

 

Một góc Mỹ Tho xưa (ảnh: lasanhoingo.com)

 

Thú thật, bao nhiêu năm lớn lên, hít thở không khí thanh sạch và êm đềm của Mỹ Tho, vậy mà tôi hoàn toàn vô tư đến vô tâm không lưu ư chút ǵ về lịch sử h́nh thành của thành phố nhỏ bên bờ sông Tiền thơ mộng của ḿnh. Giờ đây, khi đọc được những ḍng lịch sử của Mỹ Tho, tôi thầm cảm ơn ông cha xưa cùng những bậc tiền bối đă tạo dựng, đă khai mở và định canh định cư một vùng đất; cảm ơn những người đă ghi lại, đă viết lại những chuyển kể về một thời quá khứ của Mỹ Tho qua những trang viết trên mạng… Để hôm nay, tôi (và những lứa hậu sinh) được đọc lại và làm cuộc hành tŕnh t́m về nguồn cội.

 

Xin được làm người nhặt nhạnh những hạt giống quí ấy và xin được chia sẻ với những ai đang muốn hiểu thêm về Mỹ Tho:

 

- Mỹ Tho đại phố: “Vào năm 1679, một nhóm khoảng ba ngàn người Minh Hương được Chúa Nguyễn cho định cư vùng đất mới này. Trong nhóm có Dương Ngạn Địch đứng ra lập Mỹ Tho đại phố ở làng Mỹ Chánh, huyện Kiến Ḥa. Khu đại phố này kéo dài đến Cầu Vĩ, G̣ Cát, tức khu vực xă Mỹ Phong hiện nay.

 

Vào thế kỷ 17, Mỹ Tho đă trở thành một trong hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ (trung tâm c̣n lại là Cù lao Phố, Biên Ḥa)... Năm 1956, Chính quyền Việt Nam Cộng ḥa lập lại tỉnh Định Tường, giải thể thị xă Mỹ Tho, nhập địa bàn vào xă Điều Ḥa. Ngày 30 tháng 9 năm 1970, Chính quyền Việt Nam Cộng ḥa cải biến xă Điều Ḥa thành thị xă Mỹ Tho, đến ngày 10 tháng 6 năm 1971, chia địa bàn thành 6 khu phố.

 

Cuối năm 1976, thị xă Mỹ Tho được nâng lên thành thành phố Mỹ Tho, là thành phố cấp 3. Và từ 2005 là đô thị loại 2”.

 

- Đường sắt đầu tiên của Đông Dương: Sài G̣n - Mỹ Tho. “Ngay sau khi xâm chiếm xong Việt Nam, người Pháp đă hoạch định xây dựng tuyến đường sắt đi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Ư đồ ban đầu của họ là xây dựng tuyến đường sắt tiếp tới Phnom Penh, Campuchia. Đầu năm 1881, chuyến tàu thuỷ đầu tiên chở nguyên vật liệu từ Pháp sang xây dựng tuyến đường sắt đă cập cảng Sài G̣n. Vào giữa năm, công trường h́nh thành với 11.000 lao động và có nhiều kỹ sư từ Pháp sang. Công ty Eiffel trực tiếp thi công, sau bốn năm, tuyến đường sắt Sài G̣n – Mỹ Tho dài 70 km đă hoàn thành, tiêu tốn 11,6 triệu franc.

 

Tổng cộng có 15 ga đă được xây dựng trên tuyến. Điểm khởi đầu xuất phát từ ga Sài G̣n và kết thúc tại ga Mỹ Tho nằm sâu trong thành phố, sát cạnh chợ.  Vị trí ga Mỹ Tho được người Pháp lựa chọn tạo nên đầu mối giao thông sắt - thuỷ - bộ. Ngày 20-7-1885 chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ ga Sài G̣n - đánh dấu sự ra đời của ngành đường sắt Việt Nam. Số lăi thu được từ tuyến đường sắt này tính đến năm 1896 là 3,22 triệu franc, đến năm 1912 là hơn 4 triệu franc. Thập kỷ 50 của thế kỷ 20, xe hơi phát triển cùng với hệ thống đường bộ. Sau 73 năm tồn tại, năm 1958, tuyến đường sắt này đă bị chính quyền Sài G̣n cũ cho ngưng chạy tàu”.

2.
Trong kư ức:

 

"Chiếc áo bà ba trên ḍng sông..."

 

- “Xóm hát bội”: Đối với người trong nghề, xóm nghệ sĩ hát bội ở phường 5, Mỹ Tho (trong con hẽm đối diện với Trường Cao đẳng Sư phạm) - nổi tiếng cả miền Nam. Đối với người dân Mỹ Tho, sự tồn tại của xóm hát bội trong suốt hơn 50 năm qua là một sự hiện diện dành được nhiều ưu ái, bởi nơi đây đă từng cung cấp cho tỉnh Tiền Giang nhiều thế hệ nghệ sĩ…

 

- Nhiều người kể lại, xóm hát bội xưa chỉ toàn là nghệ sĩ hát bội... Hiện nay, xóm hát bội có 2 “đoàn” hát bội là “đoàn” Hiệp Lợi và “đoàn” Bảo Ân....Đào kép trong gánh chủ yếu vẫn là những thành viên trong gia đ́nh. Cha truyền con nối qua nhiều thế hệ, nghề ca hát đă tồn tại trong những gia đ́nh này như một cái nghiệp khó có thể dứt ra được… Hiện tại, hát bội sống bằng những buổi cúng chầu, cúng đ́nh; mỗi tháng nếu có chầu th́ diễn khoảng 2 – 3 ngày...Hiện nay, một thực trạng mà 2 nhóm hát bội Hiệp Lợi và Bảo Ân đều gặp phải, đó là không thể “thanh xuân hóa” đội ngũ diễn viên. Tuổi đời trung b́nh của nhóm Bảo Ân lên đến trên 45, ở nhóm Hiệp Lợi c̣n cao hơn. Xóm hát bội bây giờ không chỉ toàn là nghệ sĩ, một lớp hậu duệ không theo nghề hát bội nữa… Làm sao để lớp trẻ có thể nh́n thấy tương lai khi quyết định học nghề, theo nghề mới chính là điều quan trọng. Nều không th́ trong tương lai không xa, cái tên “Xóm hát bội” ở phường 5, thành phố Mỹ Tho này sẽ chỉ c̣n trong kư ức…”

 

- Bà  tôi: “Những tháng năm bần hàn, ba mẹ tôi đă phải để bầy con dại ở nhà với bà nội mà lênh đênh nghề thương hồ với chiếc ghe bầu cũ kỹ. V́ vậy, cái ǵ cũng một tay nội lo. Theo tiếng vơng kẽo kẹt và những câu ru mộc mạc quê mùa, theo bàn tay chăm sóc của bà nội, lũ chúng tôi đă lớn lên như trái bầu trái bí trên giàn.

 

Đối với tôi, bà nội là một kho tàng vô giá về sự đời. Qua bà, tôi biết yêu cái thiện và ghét cái ác, biết thương mến giúp đỡ những người hoạn nạn và học được sự lạc quan trước những khó khăn trong cuộc sống, Dưới bóng mát của bà nội, tôi như cây non vươn lên trong bầu trời rộng, không quá cứng cáp vượt trội nhưng cũng không quá ươn yếu xanh xao.

 

Tôi vẫn nhớ bài học thuộc ḷng năm học lớp một: “Bà ơi cháu rất yêu bà. Đi đâu bà cũng mua quà về cho. Hôm qua có chiếc bánh ḅ, bà chia cho cháu phần to nhất nhà…”. Khi ấy, tôi vẫn nghĩ tác giả bài thơ đang tả về bà nội của tôi ...Cho đến bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc mơ, tôi vẫn mơ thấy nội, tôi vẫn mơ lại những ngày tháng lẫm đẫm đi dưới bóng mát chở che của bà nội… Và khi tỉnh dậy, nước mắt c̣n ướt đầm trên mắt".

 

Vâng, với một tâm trạng bùi ngùi thương tiếc tôi đă đọc một hơi và “chép” một mạch những bài viết gắn với Mỹ Tho, về cái đă thuộc về quá khứ - như tuyến đường sắt xưa nhất Đông Dương – chứng minh Mỹ Tho xưa là trung tâm của vùng đồng bằng sông Cưu Long và có khả năng nối kết kinh tế qua tuyến đừơng sắt các nước bạn; về cái sắp lùi vào dĩ văng như gánh hát bội ... Và trong những điều xưa cũ ấy tôi chợt nhớ tới bà nội của tôi - một cổ vật quí báu đă thuộc về kư ức. H́nh bóng của bà nội với những ngày tôi c̣n bé tẹo ở xóm Đ́nh Điều Hoà, phường 2, là những h́nh ảnh lấp lánh gắn liền với nỗi nhớ  Mỹ Tho trong tôi:

 

3. Nỗi nhớ và mong muốn

 

- “Thành phố Mỹ Tho rất nhỏ, chỉ cần hơn một giờ thôi th́ ḿnh có thể chạy xe đạp quanh thành phố rồi. Thảo yêu hàng me già, yêu cành phượng vỹ , yêu cái Giếng Nước , yêu từng con đường, góc phố của Mỹ Tho... Cây cầu Quay đă sống với Mỹ Tho hơn 100 năm từ hồi thời Pháp xây nó cho đến giờ mới được sửa chữa lại.


Gió mát lồng lộng thổi từ con sông Tiền vào thành phố , Thảo đứng dang hai tay ra, nhắm mắt lại. Thảo yêu thích con sông Tiền , Thảo thích lắng nghe tiếng sóng vỗ vào bờ, ngắm nh́n những đôi nhân t́nh dạo chơi quanh vườn hoa Lạc Hồng. Thảo nh́n sang bên kia cồn Tân Long , ước ǵ Thảo có đôi tay dài để kéo cái cồn kia sát bên này...

Mỹ Tho là miền đất rất được ưu đăi của thiên nhiên , trái cây đủ loại không thiếu thứ ǵ. Ở Mỹ Tho có nhiều cồn như cồn Tân Long , cồn Phụng... Cồn là mảng đất nổi lên giữa sông do phù sa bồi đắp....Nói đến cá tôm th́ ở Mỹ Tho cá nhiều lắm , hễ nơi nào có nước là có cá...”

 

Nếu bạn là dân gốc Mỹ Tho, chắc chắn bạn sẽ có cảm t́nh với một cô gái  tên Thảo từ nước Anh xa xôi đă viết những ḍng cảm xúc “trên mạng” như thế. Chắc chắn cô gái ấy là dân Mỹ Tho chính cống, mới có thể miêu tả Mỹ Tho  vừa mộc mạc chuẩn xác vừa ngồn ngộn t́nh cảm như thế.

 

- “Nguyễn Đ́nh Chiểu, Lê Ngọc Hân là 2 trường Trung Học lớn và lâu đời nhất Mỹ Tho. Trường Nguyễn Đ́nh Chiểu được coi là một trường trung học có mặt sớm nhất trên mảnh đất đồng bằng sông Cửu Long (thành lập năm 1879 dưới thời Pháp thuộc, cách đây 128 năm) và là nơi đào tạo khá nhiều nhân tài cho miền Nam... Vào sáng Chủ Nhựt, 26 tháng 8 năm 2007, tại nhà hàng Grand Garden (Westminster, CA, Hoa Kỳ) đă có cuộc họp mặt khoảng 500 người giữa thầy và cựu học sinh của hai trường Trung Học Nguyễn Đ́nh Chiểu và Lê Ngọc Hân để kỷ niệm 50 năm thành lập trường Nữ Trung Học Lê Ngọc Hân Mỹ Tho (26/08/1957-26/08/2007)...”

 

Lại những trang web khác viết về Mỹ Tho. Có rất nhiều trang web hải ngoại viết nhắc đến Mỹ Tho. Có biết bao lứa học sinh lớn lên từ hai mái trường nổi tiếng nhất Mỹ Tho ấy, bây giờ phiêu bạt bốn phương. Có rất nhiều người công thành danh toại, cũng có người c̣n vất vả gian nan, nhưng trong ḷng vẫn đong đầy những kỷ niệm về trường xưa, bạn cũ và  với những điều mong muốn tốt đẹp về thành phố Mỹ Tho.

 

- “Mỹ Tho đă có thêm trường Cao Đẳng Sư Phạm Tiền Giang, Trung tâm Giáo dục Thường xuyên Tiền Giang, trường Đại học Tiền Giang...”

 

- “Mời bạn đến với Tiền Giang, nơi sinh ra đờn ca vọng cổ. Hăy tham quan và thưởng thức hương vị của hủ tiếu Mỹ Tho, bánh giá Chợ Giồng, mắm c̣ng cù lao Tân Thới,,, Tiền Giang, khí hậu thuận ḥa, cây lành trái ngọt và những người dân thật thà, chân chất,,,, Hăy một lần tận hưởng không khí trong lành giữa thiên nhiên với màu của trời, hương của đất, vị của cây, cái t́nh của ḷng người b́nh dị. Tiền Giang luôn chào đón các bạn.”

 

- “Mỹ Tho đă hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể về kinh tế - xă hội và quy hoạch (điều chỉnh) chung về xây dựng đến năm 2020 và hiện đang tiến hành quy hoạch chi tiết cho các ngành, lĩnh vực khác. Đây là cơ sở cho việc định hướng phát triển thành phố nhằm giúp cho Mỹ Tho giữ được vai tṛ trung tâm của tỉnh Tiền Giang và khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long...”

 

Từ Mỹ Tho hôm nay nh́n về phía tương lai, có thể thấy rằng, về quy hoạch tổng thể, những lĩnh vực văn hoá – giáo dục – du lịch, những hoạt động kinh tế - xă hội của Mỹ Tho đều đă được các cấp chính quyền và người dân quan tâm thực hiện, với mục đích: “giữ được vai tṛ trung tâm của tỉnh Tiền Giang và khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long”. Trong nền kinh tế thị trường giai đoạn hội nhập thế giới, để đạt được mong muốn đó, th́ bên cạnh việc giữ ǵn và tôn tạo những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể từ bao đời, Mỹ Tho cần tự rèn luyện và nâng cấp nguồn nhân lực, cần năng động hơn nữa, mạnh dạn tiếp cận những cái mới mẽ hiện đại hơn nữa... Và c̣n phải biết tập họp lực lượng, huy động chất xám và chất xanh từ những người xa xứ, bà con kiều bào gốc Mỹ Tho – bởi họ luôn nặng ḷng với quê nhà và luôn mong muốn “Mỹ Tho của ḿnh” ngày một đẹp hơn, phát triển hơn, hoàn thiện hơn một cách bền vững.

Q.L

(1/2008)

 

 

 

 

            http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=219

 

Nguyễn Đ́nh Chiểu - 阮庭沼 x 

Thơ » Việt Nam » Nguyễn Đ́nh Chiểu

 

» Hiện danh sách 1 người yêu thích

  1. hdcadmin

» Hiện danh sách 1 bài viết liên quan tới tác giả Nguyễn Đ́nh Chiểu trong Thư viện bài viết

  1. Văn bản Lục Vân Tiên, những đính chính từ góc độ ngôn ngữ và văn hóa ((Không rơ))

» Hiện tiểu sử tác giả
Nguyễn Đ́nh Chiểu
阮庭沼 (1822-1888) tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ (sau khi mù lấy hiệu Hối Trai), sinh ngày 12, tháng 5, năm Nhâm ngọ (1822), ở làng Tân Khánh, tổng B́nh Trị thượng, huyện B́nh Dương, phủ Tân B́nh, tỉnh Gia Định. Cụ mất ngày 24 tháng 5, năm Mậu Tư (1888) ở làng An Đức, tổng Bảo An, quận Ba Trị, tỉnh Bến Tre.

Cha là Nguyễn Đ́nh Huy, mẹ là Trương Thị Thiệt. Ông là con cả của bà Thiệt, tuy vậy thuộc ḍng thứ của ông Huy. Ḍng chính của ông Huy với bà Phan Thị Hữu có 2 con: Đ́nh Lân và Thị Phu. Bà họ Trương có 7 con: các em của ông Đ́nh Chiểu là Thị Thục, Thị Nữ, Thị Thành, Đ́nh Tựu, Đ́nh Tự, và Đ́nh Huân.

Ông đỗ tú tài trong kỳ thi hương 1843 tại Gia Định. Năm 24 tuổi ông ra Huế để thi hội dọc đường nghe tin mẹ mất (10.12. 1848) ông phải trở về cư tang. Trên đường về ông bị bệnh, mù hai mắt. Ông học được nghề thuốc từ thầy thuốc Trung. Năm sau về đến nhà ông dạy học, sĩ tử rất đông.

Truyện Lục Vân TiênDương từ hà mậu có lẽ được làm ra trong thờ kỳ này. Trong đám học tṛ, có Lê Tăng Quưnh, kính yêu và cám cảnh của thầy "Đồ Chiểu", đă xin cha mẹ gả em gái của ḿnh là Lê thị Điền cho thầy.

Năm 1858, Pháp chiếm thành Gia Định, ông phải về quê vợ ở Cần Giuộc, Chợ Lớn. Truyện Ngư tiều vấn đáp có lẽ được làm ra trong giai đoạn này.

Năm 1861, Pháp chiếm Cần Giuộc, ông trôi nổi tới Ba trị xa xôi hẻo lánh. Năm 1867, cụ Phan Thanh Giản tuẫn tiết cũng là năm truyện Lục Vân Tiên được in ra bằng chữ quốc ngữ do tay một người pháp là G. Janeau sao lục và chú thích. Cụ cũng như đa số văn nhân thời ấy không thích chữ quốc ngữ.

Năm 1883, tham biện chủ tỉnh Bến Tre, đến viếng tiên sinh để cầu nhuận chính bản Lục Vân Tiên, khi về có ghi vào báo L'Independant de Saigon (1883):
"Cụ Đồ Chiểu nằm trên giường v́ đang cơn bệnh nặng. Người ta đă lén tôi mà cho cụ hay trước sự tôi đến, nên cu muốn chỗi dậy tiếp tôi. Biết thế, tôi bèn đi thẳng vào buồng cụ th́ vừa khi cụ bước ra pḥng khách, có hai người d́u đỡ. Cụ đồ là một ông già cao lớn, đẹp đẽ, gương mặt trầm tĩnh xanh xao, đầy vẻ cao nhă. Lời nói của cụ rất thanh tao trôi chảy và tôi nghe cụ được rơ ràng đầy đủ. Về phần tôi th́ khác hẳn, cụ không nghe đặng tôi v́ cụ đă điếc. Chỉ có đôi ba người quen gần cụ là có thể nói cho cụ nghe hiểu. Sau câu chuyện về sức khoẻ của cụ, tôi đề cập đến việc quan trọng của tôi nhưng không hi vọng thành công. Cụ Đồ Chiểu tỏ thật với tôi rằng sức khoẻ và trí nhớ của cụ đă giảm, thêm phần khó cho cụ trong việc nhuận chính bản thơ Lục Vân Tiên. Tôi bèn bàn với cụ để cho những người đă quen với cái thính quan của cụ ngâm thơ Lục Vân Tiên theo một bản in của người Tàu, rồi cụ chỉ những câu thừa nên bỏ, những câu trật nên sửa và những câu bị bớt nên thêm vào. Cụ nhận làm cái công việc nhọc nhằn ấy.

Rồi tôi tặng cụ một quyển Lục Vân Tiên chữ Nôm rất đẹp. Cụ muốn cảm ơn tôi theo lễ tục Việt Nam. Tôi bèn nhờ người nói lại rằng giữa cụ và tôi không nên giữ lễ, tôi c̣n trẻ, không dám làm phiền cụ điều chi hơn là xin cụ đối đăi với tôi như một bậc lăo thành thông thái tiếp một người bạn ngoại quốc rất hâm mộ cụ.

Giao kết xong rồi, tôi tiếp tục hầu chuyện cùng cụ. Thật cụ là một tinh thần thanh cao và rất mực khiêm tốn. Cụ nói với tôi rằng cụ rất đỗi ngạc nhiên mà thấy ngày nay người ta để ư tới cụ; và trước khi tôi nói với cụ điều ǵ (vả lại điều đó tôi cũng không muốn nói), cụ đă hiểu ư. Cụ bảo tôi rằng cụ lấy làm vinh hạnh được người đời chú trọng tới văn phẩm của cụ và chiếu cố tới thân phận cụ. Ngoài ra cụ khước từ tất cả các món tưởng lệ bằng tiền bạc. Đời sống của cụ cũng đầy đủ và chút thanh danh mà người đời bao quanh tên tuổi của cụ cũng đủ làm cho cụ thỏa măn rồi.
"

1. Điếu Phan Thanh Giản

3. Từ biệt cố nhân

5. Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh

2. Chạy Tây

4. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

6. Xúc cảnh

1. Hồi 01

3. Hồi 03

5. Hồi 05

2. Hồi 02

4. Hồi 04

6. Hồi 06

1. Hồi 01: Vân Tiên tạ thầy xin về đi thi (câu 1 - 76)

8. Hồi 08: Vân Tiên từ biệt Vơ công, Thể Loan. Lên đường ra kinh thi, gặp: Vương Tử Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm (câu 419 - 552)

15. Hồi 15: Nguyệt Nga nhân có Lục ông, Kiều công mời qua, nghe tin Vân Tiên mất, buồn rầu khóc than (câu 1265 - 1360)

2. Hồi 02: Vân Tiên lên đường gặp lũ sơn đài (câu 77 - 136)

9. Hồi 09: Vân Tiên được tin mẹ chết, quày quả trở về (câu 553 - 846)

16. Hồi 16: Thái sư đi nói Nguyệt Nga cho con không được, nên oán mà xin vua đ̣i đi cống Hồ bên nước Ô Qua (câu 1361 - 1486)

3. Hồi 03: Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (câu 137 - 236)

10. Hồi 10: Trịnh Hâm hại Vân Tiên, trói tiểu đồng trong rừng, xô Vân Tiên xuống sông (câu 847 - 944)

17. Hồi 17: Nguyệt Nga nhảy xuống sông, nhờ Quan Âm đem vô bờ; vào vườn gặp Bùi ông đem về nuôi, bị Bùi Kiệm dỗ ngon dỗ ngọt (câu 1487 - 1636)

4. Hồi 04: Nguyệt Nga về Hà Khê (câu 237 - 286)

11. Hồi 11: Ngư ông vớt Vân Tiên lên, đem về nhà Vơ công (câu 945 - 1018)

18. Hồi 18: Nguyệt Nga trốn họ Bùi, lăo bà gặp đem về nuôi (câu 1637 - 1664)

5. Hồi 05: Vân Tiên đi thi (câu 287 - 308)

12. Hồi 12: Vơ công giả đưa về Đông thành, đem Vân Tiên bỏ trong hang Thương ṭng (câu 1019 - 1076)

19. Hồi 19: Vân Tiên nhờ thuốc tiên sáng mắt, bỏ chùa, giă từ Hớn Minh về thăm cha (câu 1665 - 1736)

6. Hồi 06: Vân Tiên để Hớn Minh đi trước, ḿnh về thăm nhà đă (câu 309 - 330)

13. Hồi 13: Du thần cứu ra khỏi hang, gặp lăo tiều cơng Vân Tiên về nhà (câu 1077 - 1118)

20. Hồi 20: Vân Tiên ra kinh thi đậu trạng nguyên. Vua sai đi dẹp giặc Ô qua với Hớn Minh (câu 1736 - 1802)

7. Hồi 07: Vân Tiên ra đi thi. Ghé nhà Vơ công gặp bạn (câu 331 - 418)

14. Hồi 14: Hớn Minh đem Vân Tiên về chùa (câu 1119 - 1264)

21. Hồi 21: Vân Tiên gặp Nguyệt Nga, về tâu vua. Ơn đền, oán trả rồi về vinh qui cưới nàng Nguyệt Nga (câu 1803 - 2076)

1. Hồi 01

16. Hồi 16

31. Hồi 31

2. Hồi 02

17. Hồi 17

32. Hồi 32

3. Hồi 03

18. Hồi 18

33. Hồi 33

4. Hồi 04

19. Hồi 19

34. Hồi 34

5. Hồi 05

20. Hồi 20

35. Hồi 35

6. Hồi 06

21. Hồi 21

36. Hồi 36

7. Hồi 07

22. Hồi 22

37. Hồi 37

8. Hồi 08

23. Hồi 23

38. Hồi 38

9. Hồi 09

24. Hồi 24

39. Hồi 39

10. Hồi 10

25. Hồi 25

40. Hồi 40

11. Hồi 11

26. Hồi 26

41. Hồi 41

12. Hồi 12

27. Hồi 27

42. Hồi 42

13. Hồi 13

28. Hồi 28

43. Hồi 43

14. Hồi 14

29. Hồi 29

44. Hồi 44

15. Hồi 15

30. Hồi 30

45. Hồi 45

 

   Điếu Phan Thanh Giản

 

Thể thơ: Thất ngôn bát cú, thời kỳ: Nguyễn
Từ khoá: điếu tế

 

Các bài thơ khác có từ khoá "điếu tế":

1.

Ai tư văn (Ngọc Hân công chúa)

2.

Điếu văn khóc cô đào hát Mộng Duyên (Lê Hữu Nghiêm)

3.

Đề mồ nhà vợ (Bùi Hữu Nghĩa)

4.

Điếu La Thành giả ca (Nguyễn Du)

5.

Điệu vong (Lâm Hồng)

6.

Điệu vong thi kỳ 1 (Phan Nhạc)

7.

Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến)

8.

Khóc Vơ Tánh (Ngọc Du công chúa)

9.

Nguyễn Bích Châu tế văn (Trần Duệ Tông)

10.

Phù dung nữ nhi luỵ (Tào Tuyết Cần)

11.

Tố thi kỳ 10 (Khanh Liên)

12.

Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 1 (Nguyễn Du)

13.

Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 2 (Nguyễn Du)

14.

Thơ tế Trương Quỳnh Như (Phạm Thái)

15.

Văn Hoà Thân kỳ 1 (Đậu Khấu)

16.

Văn Hoà Thân kỳ 2 (Đậu Khấu)

17.

Văn tế Đống Đa (Khuyết danh Việt Nam)

18.

Văn tế Bá Đa Lộc (viết hộ Nguyễn Vương) (Đặng Đức Siêu)

19.

Văn tế cá sấu (Hàn Thuyên)

20.

Văn tế Châu Văn Tiếp (Đặng Đức Siêu)

 

...

, Phan Thanh Giản

 

Các bài thơ khác có từ khoá "Phan Thanh Giản":
Không có!


Đă được xem 963 lần
Đăng bởi Điệp luyến hoa vào 26/07/2005 19:15
Đă sửa 1 lần, lần sửa cuối bởi Điệp luyến hoa vào 10/03/2006 11:38
xCó 1 bài trả lời

1 bài trả lời

Trong đó: 1 thảo luận thêm

1. 

Chén đắng rượu Xuân thu - Bi kịch của Phan Thanh Giản


Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5

xThao tác

 

 

 

Non nước tan tành hệ bởi đâu
Dàu dàu mây bạc cơi Giao Châu
Ba triều công cán đôi hàng sớ
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu
Trạm bắc ngày trông tin nhạn vắng
Thành nam đêm quạnh tiếng chim sầu
Minh tinh chín chữ ḷng son tạc
Trời đất từ đây mịt gió thu


Diễn đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/

 

 

 

   Chạy Tây

 

Thể thơ: Thất ngôn bát cú, thời kỳ: Nguyễn
Đă được xem 1856 lần
Đăng bởi Điệp luyến hoa vào 26/07/2005 19:15


(4 điểm, 1 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5

xThao tác

 

 

 

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dát bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây
Hỏi trang dẹp loạn này đâu vắng ?
Nỡ để dân đen mắc nạn này!


Tên bài này có nơi chép là Chạy giặc.


Diễn đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/

 

 

 

   Từ biệt cố nhân

 

Thể thơ: Thất ngôn bát cú, thời kỳ: Nguyễn
Đă được xem 491 lần
Đăng bởi Điệp luyến hoa vào 26/07/2005 19:33


Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5

xThao tác

 

 

 

V́ câu danh nghĩa phải đi ra,
Day mũi thuyền nan dạ xót xa,
Người dễ muốn chi nương đất khách,
Trời đà khiến vậy mến vua ta.
Một phương thà tránh đường gai gốc,
Trăm tuổi cho tṛn phận tóc dạ
Chén rượu ấm ḷng xin cạn chén,
Nhớ nhau ngày khác biết sao mà.

 

 

Có bản chép: "Chén rượu đỏ ḷng xin cạn chén".


Diễn đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/

 

 

 

   Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

 

Thể thơ: Phú, thời kỳ: Nguyễn
Từ khoá: văn tế

 

Các bài thơ khác có từ khoá "văn tế":

1.

Nguyễn Bích Châu tế văn (Trần Duệ Tông)

2.

Văn tế Đống Đa (Khuyết danh Việt Nam)

3.

Văn tế Bá Đa Lộc (viết hộ Nguyễn Vương) (Đặng Đức Siêu)

4.

Văn tế Cao Thắng (Vơ Phát)

5.

Văn tế cá sấu (Hàn Thuyên)

6.

Văn tế Châu Văn Tiếp (Đặng Đức Siêu)

7.

Văn tế Hai Bà Trưng (Thượng Tân Thị)

8.

Văn tế nghĩa sĩ trận vong (Nguyễn Văn Thành)

9.

Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh

10.

Văn tế Nguyễn Biểu (Trần Trùng Quang Đế)

11.

Văn tế Nguyễn Thị Tồn (Bùi Hữu Nghĩa)

12.

Văn tế Nguyễn Thái Học và cô Giang (Phan Bội Châu)

13.

Văn tế Phan Chu Trinh (Phan Bội Châu)

14.

Văn tế sống vợ (Trần Tế Xương)

15.

Văn tế thần sách (Lỗ Tấn)

16.

Văn tế thập loại chúng sinh (Nguyễn Du)

17.

Văn tế Trường Lưu nhị nữ (Nguyễn Du)

18.

Văn tế Trương Quỳnh Như (Phạm Thái)

19.

Văn tế vua Quang Trung (Ngọc Hân công chúa)

, Cần Giuộc

 

Các bài thơ khác có từ khoá "Cần Giuộc":

1.

Bên những nghĩa sĩ Cần Giuộc vô danh (Bảo Định Giang)

, điếu tế, hy sinh

 

Các bài thơ khác có từ khoá "hy sinh":

1.

Đôi bàn tay mẹ (Trương Trọng Nghĩa)

2.

Chuỗi thơ anh Trỗi (Chế Lan Viên)

3.

Con sẽ trở về (Khuyết danh Nga)

4.

Dịch thuỷ ca (Kinh Kha)

5.

Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân)

6.

Giá từng thước đất (Chính Hữu)

7.

Hăy nhớ lấy lời tôi (Tố Hữu)

8.

Khoảng trời - hố bom (Lâm Thị Mỹ Dạ)

9.

Mẹ Suốt (Tố Hữu)

10.

Màu tím hoa sim (Hữu Loan)

11.

Núi đôi (Vũ Cao)

12.

Ngủ yên đồng chí nhé (Chế Lan Viên)

13.

Ngă ba Đồng Lộc (Huy Cận)

14.

Người con gái Việt Nam (Tố Hữu)

15.

Người tử sĩ (Nguyễn Đ́nh Thi)

16.

Nguyễn Văn Trỗi (Lê Anh Xuân)

17.

Những người không chết (Tố Hữu)

18.

Phạm Hồng Thái (Tố Hữu)

19.

Phần 01 (Pavel Grigorjevich Antokolsky)

20.

Sau trận chiến nó đă không về (Vladimir Vysotsky)

 

...


Đă được xem 2539 lần
Đăng bởi Điệp luyến hoa vào 26/07/2005 19:30
Đă sửa 3 lần, lần sửa cuối bởi Điệp luyến hoa vào 04/04/2006 12:16
xCó 1 bài trả lời

1 bài trả lời

Trong đó: 1 thảo luận thêm

1. 

về Văn tế

xCó 1 người yêu thích

1 người yêu thích

hdcadmin


(5 điểm, 2 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5

xThao tác

 

 

 

Hỡi ơi! Súng giặc đất rền; ḷng dân trời tỏ.

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt c̣n danh nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mơ.

Nhớ linh xưa:
Cui cút làm ăn;
Toan lo nghèo khó.
...

» Xem toàn bộ bài thơ


Tài liệu tham khảo:
1. Thi văn Quốc cấm thời thuộc Pháp, Thái Bạch.
2. Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Lộc.
3. Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm.

nghĩa sĩ: Người có chí khí, không quản ngại hi sinh làm việc nghĩa như cứu người, cứu nước.
Cần Giuộc: Quận Cần Giuộc, nay thuộc tỉnh Long An.

 

Cui cút làm ăn có nghĩa là làm ăn lẻ loi, thầm lặng một cách tội nghiệp.

 

Chỗ đánh nhau.

 

 

Làng xóm (có bản chép: làng hộ).

 

Thứ mộc h́nh tṛn đan bằng mây dùng để đỡ mũi giáo đối phương lúc xung trận.

 

 

Lấy ở câu "phong thanh hạc lệ, thảo mộc giai binh", nghĩa gốc là nói sự hồi hộp lo lắng, nghe tiếng gió thổi hạc kêu, thấy cây cỏ cũng tưởng là giặc đuổi đánh. Ở đây, "tiếng phong hạc" có nghĩa là tin kẻ địch đến.

 

Tanh hôi, chỉ bọn thực dân Pháp.

 

 

Dây dính bậy bạ.

 

Giống cây dây leo có nhiều râu (tay leo). Ở đây chỉ những lều và buồm vải có nhiều dây của quân Pháp.

 

 

Cỗ xe và chữ viết, do chữ "xa đồng quỹ, thư đồng văn", nghĩa là xe cộ cùng một đường (quỹ: dấu xe đi), sách viết cùng một thứ chữ, ư nói sự thống nhất hoàn toàn.

 

(lấy tích Lưu Bang cướp ngôi nhà Tần) đến chiếm cướp. Cả vế "một mối ... đuổi hươu" có nghĩa: đất nước ta là một khối thống nhất vĩ đại, không thể nào để kẻ nào đến chiếm cướp.

 

 

Chém cá ḱnh.

 

Bắt hổ.

 

 

Các loại đơn vị quân đội thời phong kiến.

 

Ḍng dơi cha ông.

 

 

Luyện tập việc binh.

 

(chiêu: vời, mời; mộ: cầu, t́m) tuyển trên cơ sở tự nguyện.

 

 

Bao đựng kiếm.

 

Bầu đựng ng̣i thuốc nổ.

 

 

Dao dài lưỡi.

 

Nón của người lính ngày xưa.

 

 

Mồi lửa để bắn súng (ngày xưa).

 

Theo tiếng Malaysia là cảnh sát.

 

 

Lính của Tây Ban Nha mộ ở Philippin (Mani: thủ đô Philippin).

 

Bọn, lũ: ngày trước chỉ có nghĩa là nhiều người, ít có nghĩa là coi thường. Ở đây là chỉ các nghĩa quân.

 

 

Xác của con người trần tục.

 

Hạnh là may, ư nói may được cứu sống. quy: về, ở đây là chết.

 

 

Một nghĩa sĩ thời Chiến Quốc không thoả được chí ḿnh, trước khi chết, dặn con treo gươm trên mộ để tỏ chí khí.

 

Thuộc Cần Giuộc.

 

 

Lệ (nước mắt).

 

Làm lính.

 

 

(hiệu: hết sức) làm hết sức để chuộc tội, hoặc có tội phải đi làm những việc nguy hiểm để chuộc tội.

 

(tài: trồng cây, bồi: vun thêm) vun đắp.

 

 

Đạo bất chính, ở đây là chỉ đạo Giatô. Bấy giờ bọn cướp nước lợi dụng đạo Giatô để chia rẽ nhân dân ta và mượn cớ đi truyền đạo để do thám. Các chí sĩ của ta chưa nhận rơ đâu là kẻ theo địch, đâu là người theo đạo nên chủ trương bài đạo nói chung.

 

B́nh hương.

 

 

Bàn thờ tổ tiên.

 

Tinh thần chống lại kẻ ḿnh căm giận.

 

 

Ông nội, người sinh ra cha. Ở đây chỉ tổ tiên, ông cha nói chung.

 

Mọi rợ, ở đây chỉ bọn giặc Pháp.

 

 

Một ngôi chùa ở Chợ Lớn (có bản chép: Tôn Hạnh).

 

Phải chịu.

 

 

Đồn Pháp.

 

Phận mỏng.

 

 

Vất vơ, vất vưởng.

 

Chữ Hán là "xích tử", trẻ con mới đẻ c̣n đỏ hỏn. Nghĩa bóng là nhân dân (cần được chăm sóc như chăm sóc đứa trẻ mới đẻ).

 

 

Được, muốn được.

 

Phải hiểu là nước mắt khóc người anh hùng.

 

 

Dân của trời.

 

Đất của vua.


Diễn đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/

 

 

 

   Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh

 

Thể thơ: Phú, thời kỳ: Nguyễn
Từ khoá: văn tế
Đă được xem 276 lần
Đăng bởi Điệp luyến hoa vào 20/07/2008 15:22


Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5

xThao tác

 

 

 

Hỡi ôi!
Tủi phận biên manh;
Căm loài dương tặc.

Ngoài sáu tỉnh hăy ngợi câu án đổ, dân nhờ vua đặng lẽ sống vui;
Trong một phương sao mắc chữ lục trầm, người v́ nước rủ nhau chết ngặt!

Nhớ các linh xưa:
...

» Xem toàn bộ bài thơ


1874

Nguồn: http://www.bentre.gov.vn/...&id=714&Itemid=70


Diễn đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/

 

 

 

   Xúc cảnh

 

Thể thơ: Thất ngôn bát cú, thời kỳ: Nguyễn
Đă được xem 666 lần
Đăng bởi Điệp luyến hoa vào 26/07/2005 19:17
xCó 1 người yêu thích

1 người yêu thích

hdcadmin


Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5

xThao tác

 

 

 

Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa xuân đâu hỡi, có hay không ?
Mây giăng
ải bắc trông tin nhạn,
Ngày xế
non nam bặt tiếng hồng.
Bờ cơi xưa đà chia đất khác,
Nắng mưa nay há đội trời chung.
Chừng nào
thánh đế ân soi thấu,
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.

 

 

Gió từ phương đông tới, tức gió mùa xuân.

 

Mùa xuân đưa lại sức sống mới cho muôn loài, cho con người. Do đó nó được gọi là Chúa xuân. Ở đây ư nói Tổ quốc độc lập (v́ Tổ quốc độc lập th́ mọi người dân có hạnh phúc).

 

 

Ải vốn có nghĩa chỗ đất hiểm trở, chật hẹp, quạnh hiu. Ải cũng có nghĩa chỗ giáp giới giữa hai nước. Ở đây, ải bắc có nghĩa là phương bắc xa xôi.

 

Núi ở phương nam. Ở đây, non nam là phương nam (cũng có thể nói là Nam Bộ lúc này đă bị chiếm đóng hoàn toàn).

 

 

Vị vua đáng tôn kính. Trong điều kiện ư thức hệ phong kiến c̣n thống trị, Nguyễn Đ́nh Chiểu không thể không nói đến thánh đế, nhưng đó là vị vua lư tưởng mà ông ước mơ.


Diễn đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/

 

 

 

 

 

 

             http://luongsonbac.com/forum/showthread.php?t=134257667

 

Ngọc Hân Công Chúa [center:eb728da105](1770-1803) [/center:eb728da105]

Tục gọi là Chúa Tiên. Con gái út của vua Lê Hiển Tôn (1740-1786). Năm Bính Ngọ (1786) lấy chồng, tức là Bắc B́nh Vương Nguyễn Huệ và được phong làm Bắc Cung hoàng hậu (1788). Bà rất thông kinh sử, thạo âm
luật và sành văn quốc âm.
Năm Nhâm Tư (1792) Bắc B́nh Vương Nguyễn Huệ tức vua Quang Trung mất, ở với chồng được 7 năm, bà sinh được một trai và một gái.

Nhà Tây Sơn đổ, bà cùng hai con vào sống lẩn lút ở tỉnh Quảng Nam, được ít lâu, có người điềm chỉ chỗ bà ở cho vua nhà Nguyễn, bà và hai con bị bắt và bị giết.

Tương truyền, bà có làm rất nhiều thơ văn bằng quốc âm, nay phần nhiều đều bị thất lạc chỉ c̣n sót lại hai áng văn , ngầm chưá lời lẽ rất thống thiết, bày tỏ tấm ḷng của người vợ đớn đau thương nhớ chồng. Đó là bài " Văn tế vua Quang Trung " và " Ai tư văn ", tức là : " Khóc vua Quang Trung ". Sau đây là nguyên văn của bài " Ai Tư Văn " :

Than rằng :

Chín từng ngọc sáng bóng trung tinh, ngoài muôn nước vừa cùng trồng vẻ thụy ;
Một phút mây che vừng Thái Bạch , trong sáu cung thoạt đă lạc hơi hương.

Tơ dứt tấc ḷng ly biệt, Châu sa giọt lệ cang thường.
Nhớ phen bến Nhị thuận buồm, hội bái việt chín châu
lừng lẫy:

Vừa buổi cầu ngân sẵn nhịp, đoạn ỷ la đôi nước rơ ràng.

Hôn cấu đă nên nghĩa cả,
Quan san bao quản dặm trường
Nhờ lượng trên cũng muốn tôn Châu, t́nh thân hiếu đă ngăn chia đôi nước ;

Song thế đă trót đà về Hớn, hội hỗn đồng chỉ cách trở một phương ,
Ḷng dẫu xót thấy cơn cách chách,
Thân lại nhờ gặp hội hưng vương.

Thành Xuân theo ngọn long kỳ, đạo tề trị gần nghe tiếng ngọc ;

Cung Hữu rạng màu địch phất, t́nh ái ân muôn đội nhà vàng.

Danh phận ấy cậy vun trồng mọi vẻ,
Nề nếp xưa nhờ che chở trăm đường,
Ơn sâu nhuần gội cỏ cây, chốn lăng tẩm chẳng phạm chồi du tữ ;

Lộc nặng thơm thơ hương khói, nơi miếu đường nèo khuyết lẻ chưng thường.

Mọi nỗi mọi nhờ trọn vẹn.
Một điều một được vẻ vang.
Pháp hằng ǵn hạc thược tước thoa, buồng quế rạng khuôn nội tắc ;

Điềm sớm ứng chung tư lân chỉ, phát Lam thêm diễn thiên hoàng.

Mảy chut' chưa đền đức cả,
Gót đầu đều trọn ơn sang.
Đền Vị Ương bóng đuốc bừng bừng, ḷng cần miễn vừa khi gióng giả ;
Miền cực lạc xe mây vùn vụt, duyên hảo cầu sao bỗng dở dang !

Ôi !
Gió lạnh buồng đào, rơi cầm nẩy sắt.
Sương pha cung đỏ, hoen phấn mờ gương.
Tiệc vầy vui nhớ hăy rành rành, dịp ca múa bỗng khuây chừng Thần Ngự ;
Buổi chầu chực tưởng c̣n phảng phất, chuông điểm hồi sao vắng chốn Cảnh Dương.
Vấn tí mấy, bảy năm kết phát ,
Đau đớn thay, trăm nỗi đoạn trường.
Hé nhà sương ngắm quyển cung châm, tiếng chỉ phất hăy mơ màng trên gối ;
Nương hiên nguyệt ngẫm lời đ́nh chỉ, bóng thúy hoa c̣n nhấp nháng bên tường.
Hang núi cũng phàn nàn đ̣i chốn ;
Cỏ hoa đều sùi sụt mấy hàng.
Liều trâm thoa mong theo chốn chân du, da tóc trăm thân nào có tiếc ;

Ôm cưỡng bảo luống ngập ngừng di thể, sửa măng đôi chút lại thêm thương.
Tiếc thay !
Ngày thoi thấm thoát;
Bóng khích vội vàng.
Thuyền ngự tỏa đă ngang gành Thái Thủy.
Nẻo hoàng tuyền xa cách mấy trùng, ngao ngán thêm ngừng cơn biệt duệ.
Chén hoàng thủy kính dâng một lễ,
Xét soi xin thấu cơi dương gian.

Ngọc Hân Công Chúa.



 

Trả lời kèm theo trích dẫn

 

LSB-KiepThuyDu

Xem Lư Lịch

Gửi tin nhắn tới LSB-KiepThuyDu

Ghé thăm Homepage của LSB-KiepThuyDu!

T́m thêm bài của LSB-KiepThuyDu

Cũ10-03-2003

  #2

Ảnh thế thân của LSB-bEbEbOnGbOnG2mA

LSB-bEbEbOnGbOnG2mA

-=[ Lương Sơn Hảo Hán ]=-

 

Gia nhập: 29-09-2002

Bài viết: 45

Điểm: 100

L$B: -67.040

LSB-bEbEbOnGbOnG2mA đang offline

 

Nhiều sách đă cho rằng sau khi dẹp được Tây Sơn, vua Gia Long đă cưới Ngọc Hân làm vợ. Tiểu đệ có đọc cuốn "Một Thời Hoàng Tộc" của Mệ Bảo Thái là hậu duệ thứ tám của vua Minh Mạng. Theo Mệ Bảo Thái, chính miệng những người thuộc một chi tộc trong hoàng tộc Nguyễn Phước đă xác nhận với tác giả họ quả thật là hậu duệ của bà Ngọc Hân. Có nghĩa là vua Gia Long có lấy công chúa Ngọc Hân.
Mặt khác, theo cuốn "Làng Tây Sơn" th́ Ngọc Hân chết trong cung Phú Xuân đời vua Cảnh Thịnh tức Nguyễn Quang Toản, con Nguyễn Huệ. Đầu sách, tác giả cũng đă dè dặt cho rằng sách không phải là một tài liệu lịch sử. Quả thật cuốn "Làng Tây Sơn" phần nhiều dựa vào những lời kể của các bậc lăo bối ở vùng Tây Sơn mà không có kiểm chứng nào.
Nếu "Làng Tây Sơn" đúng về cái chết của Ngọc Hân th́ "Một Thời Hoàng Tộc" sai về chuyện Ngọc Hân lấy Gia Long và ngược lại.
Đệ không dám quả quyết bên nào đúng bên nào sai, chỉ xin nhường lại cho quư huynh cho nghe cao kiến.



 

Trả lời kèm theo trích dẫn

 

LSB-bEbEbOnGbOnG2mA

Xem Lư Lịch

Gửi tin nhắn tới LSB-bEbEbOnGbOnG2mA

Ghé thăm Homepage của LSB-bEbEbOnGbOnG2mA!

T́m thêm bài của LSB-bEbEbOnGbOnG2mA

Cũ20-03-2004

  #3

Ảnh thế thân của LSB-van_yeu_hoai

LSB-van_yeu_hoai

-=[ Lương Sơn Hảo Hán ]=-

 

Gia nhập: 21-04-2003

Bài viết: 119

Điểm: 66

L$B: 6.284

LSB-van_yeu_hoai đang offlineGửi tin qua AIM tới LSB-van_yeu_hoaiGửi tin qua Yahoo tới LSB-van_yeu_hoai

 

Ngọc Hân - Công Chúa (khoảng cuối thế kỷ 18)

Bà là con vua Hiển Tôn nhà Lê, sinh năm nào chưa rơ. Người ta nói rằng bà có nhan sắc và rất thông minh lại giỏi về nghề văn thơ.

Năm cảnh-Hưng thứ bốn mươi bảy (1786), khi ông Nguyễn-Huệ kéo quân đến Thăng-Long, vào cầu vua Hiển-Tôn, tỏ ư muốn phùnhà Lê, diệt họ Trịnh, vua Hiện-Tôn liền gả bà cho ông ấy, sau khi đă phong cho ông ta làm chức nguyên xoái, tướng Uy-quốc-Công. Rồi bà theo ông Nguyễn-Huệ về thành Thuận-Hóa.

Năm Mậu-Thân (1788), ông Nguyễn-Huệ lên ngôi Hoàng-Đế đă5t niên hiệu là Quang-Trung, bà được phong làm Hữu-Cung Hoàng Hậu.

Với bà , vua Quang-Trung, vẫn rất chiều quí và đối đăi bằng cách rất đặc biệt, cho nên dù khi vua Chiêu-Thống mượn quân nhà Thanh về đánh nhà Tây-Sơn, vua Quang-Trung vẫn ǵn giữ lăng miếu nhà Lê và không động đến con cháu vua Lê.

Năm nhâm-Tư (1792) vua Quang-Trung tạ thế, bà mới ngoài hai mươi tuổi. Tính ra bà ở với vua Quang-Trung đầu đuôi mới có bảy năm, sinh được một người con trai và một người con gái.

Khi nhà Tây-Sơn mất nước, bà và các con đổi tên họ vào ẩn ơ một làng trong tỉnh Quảng Nam. Nhưng không bao lâu, co' lkẻ phát giác, bà phải uống thuốc độc tự tử, hai con đều phải thắt cổ.

Bấy giờ, mẹ bà c̣n sống. Bà cụ họ Nguyễn, đời vua Hiển-Tôn nhà Lê, được phong làm chức Chiêu-Nghi, quê ở làng Phù-Ninh (tục gọi làng Nành, thuộc tổng Hạ-Dương, huyện Động Ngàn, phủ Từ-Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Từ khi nhà Lê mất nước, bà ấy vẫn về ở tại làng ấy. Khi được tin con gái và cháu ngoại đều bị chết thảm, bà cụ cực kỳ thương xót, liền thuê người lần vào Quảng-Nam, lấy trộm cả ba cái xác, đưa xuống thuyền vượt biển ra Bắc, đem về chôn ở đồng làng Nành. Cạnh những mộ đó, bà cụ có lập nên một toà miếu nhỏ, để tḥ con gái và cháu.

Sau đó chừng năm chục năm, vào khoảng đời vua Thiệu-Trị miếu ấy h́nh như đă đổ nát. Ở làng Nành có ông Tú-Tài. Nghĩ đến công đức của Chiêu-Nghi họ Nguyễn đối với làng ḿnh bèn đứng lên quyên tiền người làng để sửa lại miếu đó.

Chẳng ngờ trong làng có ông phó-tổng thù nhau với ông Tú này, được dịp hắn liền vào Huế tố cáo ông Tú có lập miếu đó đê thờ ngụy hậu.

Lập tức ở Huế có lệnh truyền ra, bắt quan bản hạt phá ngôi miếu đó và khai quật cả ba ngôi mộ bà và 2 người con, lấy hài cốt đem đổ xuống sông. Viên Tú-Tài bị tội rất nặng. Ông Nguyễn-đăng-Giai lúc ấy đang làm Tổng-Đốc Bắc-Ninh cũng bị dáng cấp về tội "thất sát".

Trong đời Gia-Long ở làng Phù-Ninh cũng có người ta trưởng lầm là bà Ngọc-Hân sau có lấy vua Gia-Long.

Sự thực th́ bà không hề biết mặt vua ấy bao giờ.

Văn chương của bả, để lại rất nhiều, nhưng bị mai một mất cả, chỉ c̣n một ít bài dưới đây;


Bài Văn Tế : TẾ VUA QUANG-TRUNG

Than rẳng:

"Chín từng ngọc sáng bóng trung tinh, ngoài muôn nước
vừa cùng trông vẻ thụy;
Một phút mây che vầng Thái-Bạch, trong sáu cung thoát
đă nhạt hơi hương.
Tơ đứt tất ḷng ly biệt.
châu sa giọt lệ cương-thường.
Nhớ phen đến Nhị thuận buồn, hội bái -việt chín châu
lừng lẫy.

Vừa buổi cầu Nhân sấn dịp, đoàn ỷ-la đôi nước rỡ ràng.
Hôn cấu đă nên nghĩa cả.
Quan san bao quản dậm trường ?
Nhờ lượng trên cũng muốn tôn chu, t́nh thân hiếu đă ngăn chia đôi nước
Song thế cả trót đà về Hán, hội hổn-đồng chi cách trở
một phương ?
Ḷng dẫu xót thấy cơn cách chính.
Thân lại nhờ gặp hội hưng vương.
Thành Xuân theo ngọn long-kỳ, đạo tề trị gần nghe
tiê'ng ngọc.
Cung-Hư4u rạng mầu địch-phất, t́nh ái ân muôn đội
nhà vàng.
Danh phận ấy cậy vun trồng mọi vẻ,
Nên nếp xưa nhờ trăm dương.
Ơn sâu nhuần-gội cỏ cây, chốn lăng-tẩm chẳng phạm trồi
duy-tử.
Lộc nặng thơm tho hương khói, nơi miếu đường nào khuyết
lễ trung thường ?
Mọi nỗi, mọi nhờ trọn vẹn.
Một điều một vẻ vang
Phép hẳng d́n hạc thược, tước hoa, buồng quế rạng
khuôn Nội-tắc
Điềm sớm ứng Chung-Tư, Lạn chỉ, phái Lam thêm diễn
thiên hoàng.
Mảy chút chưa đền đức cả
Gót đầu đều trọn ơn sang,
Đền Vị-ương bóng đuốc bừng bừng, ḷng cần mẫn vùa
khi dóng dă
Miền cực lạc xe mây vùn vụi, duyên hảo cầu sao bỗng
dở dang?
Ôi !
Gió lạnh buồng đào, rơi cầm nẩy sắt;
Sương pha cung đỏ, hoen phấn mờ gương !
Việc vầy vui nhớ hăy rành rành, dịp ca múa bổng khuây
chừng Thần-ngự
Buổi chầu chựt tưởng c̣n phảng -phất, chuông điểm hồi
nào vắng cảnh-Dương?
Vấn vít mấy, bảy năm kết phát !
Đau đớn thay ! trăm nỗi đoạn trường !
Hè nhà sương ngắm quyển cung châm, tiếng chi phất hăi mơ màng trên gối.
Nương hiên Nguyệt ngẫm lời đ́nh chỉ, bóng thúy-hoa
c̣n trấp-trời bên tường.
Hang núi cũng phàn nàn đ̣i chốn !
Cỏ hoa đều sụt đôi hàng !
liều châm thoa mong theo chốn chân du, da tóc trăm
thân nào có tiếc !
Ôm cưỡng-bảo luống ngập ngừng di thể, sữa mang đôi
chút lại thêm thương.
Tiếc thay !
Ngày thoi thắm thoát !
Bóng khích vội vàng !
Thuyền ngự tọa đă ngang ghềnh Thái Thủy,
Bóng loang xa thẳng trỏ ối tiên hương
Nẻo hoàn toàn xa cách mấy trùng, ngao ngán thêm ngừng
cơn biệt duệ
chén hoàng thủy kính dâng một lẽ, xét soi xin thấu cơi
minh dương.



 

Trả lời kèm theo trích dẫn

 

LSB-van_yeu_hoai

Xem Lư Lịch

Gửi tin nhắn tới LSB-van_yeu_hoai

T́m thêm bài của LSB-van_yeu_hoai

Cũ20-03-2004

  #4

Ảnh thế thân của LSB-van_yeu_hoai

LSB-van_yeu_hoai

-=[ Lương Sơn Hảo Hán ]=-

 

Gia nhập: 21-04-2003

Bài viết: 119

Điểm: 66

L$B: 6.284

LSB-van_yeu_hoai đang offlineGửi tin qua AIM tới LSB-van_yeu_hoaiGửi tin qua Yahoo tới LSB-van_yeu_hoai

 

Bài Văn tế này đại để Ngọc-Hân Công-Chúa nói rằng: Vua Quang-Trung mới lên ngôi báu, như ngôi sao ở giữa trời, mới rạng về ngọc trên chín từng mây, bỗng chốc vua đă tạ thế. Như đám mây đen che vừng Thái Bạch. Khiến cho cả sáu cung, v́ buồn rầu mà mùi hương. Trong lúc kẻ mất người c̣n tấm ḷng bà đau đớn như sợi tơ đứt, nghĩ đén t́nh nghĩa vợ chồng, giọt lệ rơi xuống như hạt châu sa.

Rồi bà kể qua lúc vua kéo quân ra Bắc Hà, bấy giờ thuyền vua thuận buồn xuôi gió tới bến sông Nhị, cuộc hội cờ lừng lẫy đến khắp mọi nơi. Duyên trời run rủi, vua Lê gả bà cho vua Quang-Trung khi ấy, đoàn là lượt trong đám đưa dâu,đón rể cuả hai nước, thật rực rỡ, tưng bừng.. Bà chẳng quản quan sơn, cách trở, theo chồng vào Nam. Bấy giờ vua cũng sẵn ḷng tôn phù nhà Lê, như các vua, Tề Hoản, Tấn-Văn tôn phù nhà Chu cho nên vua đă tỏ t́nh giao hữu định rơ bờ cơi của hai nước.

Chỉ v́ ngoài Bắc Nguyễn-hữu-Chỉnh gây loạn, khiến cho đại thế trong nước đă về nhà Tây-Sơn, cũng như đại thế trong đời Hán, Sở giao tranh đă về nhà Hán, vua không thể để cho cuộc thống nhất c̣n chừa một phương Bắc-Hà, nên phải phái quân bắt Nguyễn-hữu-Chỉnh, làm cho vua Chiêu Thống phải bỏ nước mà chạy. Bà tuy vẫn đau xót về sự mắt thấy cơn thay đổi chính quyền nhà Lê, nhưng thân bà lại nhờ vua Quang-Trung mà được gặp một cơ hội xây dựng đế nghiệp.

Từ khi theo ngọn cờ rồng vào thành Phú-Xuân, bà thường được nghe vua dạy bảo về đường tề gia, trị quốc. Vua cấm không ai được động đến lăng tẩm nhà Lê, ấy là lộc nặng của vua khiến cho nén hương, ngọn khói cũng được thơm tho, ân sâu của vua thấu đến cỏ cây. Công đức của vua, chưa báo đáp chút nào, th́ bỗng xe mây của Vua đă xa chơi miền Cực lạc của Đức Phật Di-Đà, khiến cho mối duyên bảo cầu giữa vua và bà thành ra nửa chừng dang dở.

Than ôi ! Từ khi vua mất, buồng đào như bị gió lạnh, đàn cầm, đàn sắt đều phải ră rời, cung đỏ như bị sương pha, vẻ phần mặt hương đầy hoen ố. Nơi cung Cảnh-Dương là chỗ ở của vua, đă không c̣n hồi chuông giục các chung nhân trở dậy trang điểm như xưa ! Nghĩ đến t́nh xe tơ, kết tóc trong bảy năm trời ruột bà như đứt thành trăm đoạn. Khi mở cánh cửa, ngó đến quyển sách răn bảo cung nhân, c̣n như thấy tiếng vua văng vẳng trên gối, khi tựa trước hèn đối bóng trăng soi, mà ngẫm đến chỉ dụ ban xuống sân chầu, c̣n như thấy bóng cờ thúy hoa của vua bay phấp phới bên tường.

chắc rằng, trong khi vua mất, nhân dân ở nơi hang sâu, núi thẩm, đến cỏ hoa là giống vô t́nh, cũng phải sụt sùi nhỏ lệ.

Bà cũng muốn liều bỏ trâm thoa để được chết theo vua để đi cùng vua đến cơi chân du, dù một trăm cái thân da trắng, tóc dài cũng không đoái điếc.

Chỉ v́ hai đứa con thơ c̣n nhỏ dại, cũng đều là máu của vua, không thể dứt t́nh mà bỏ cho được.

Ngày tháng mau chóng, đời người không bao lâu, bây giời thuyền vua đă khuất, xe vua đă tới làng tiên, nghĩ đến cảnh vua ở dưới suối vàng xa cách, càng ngao ngán, nghẹn ngùng cho cuộc biệt ly. Vậy xin dâng một chén rượu nhạt, mong vua xét soi đến.

Bài văn tế trên ư nghĩa rơ ràng, lời lẽ chải chuốt, dùng nhiều điển đắc thể và xác đáng. Văn tế như thế thật là hay. Một người phụ nữ mà có văn tài bực này, căn cứ ở ta, ngay như ở Tàu là nước văn học phát đạt, chưa chắc là có người phụ nữ nào làm được một bài hay như thế.


~~o0o~~


BÀI AI TƯ VĂNG
Khóc Vua Quang-Trung


Gió hiu hắt pḥng tiêu lạnh lẽo
Trước thền lan hoa héo ron ron
cầu tiên khói tỏa đỉnh non
Xe rồng thăm thẳm bóng loan rầu rầu
Nỗi lai lịch dễ hầu than thở ?
Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao?
Sầu sầu, thảm thảm xiết bao ?
Sầu đầy dạt bể, thảm cao ngất trờ !
Từ cờ thắm trỏ về đất Bắc
Nghĩa tôn-phù vằng vặc bóng dương
Xe giây vâng mệnh phụ hoàng
Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui
Trăm ngàn dặm quản chi non nước
Chữ nghi gia mừng được phải duyên
Sang yên muôn đội ơn trên
Rỡ-ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm
Lượng che chở, vụng lầm nào kể
Phận đinh ninh, cặn kẽ mọi lời
Nguồn t́nh ắt chẳng chút vơi đáu là
Ḷng đùm bọc thưong hoa, đoái cỏi
Khắp tôn thân cũng đội ơn sang
Miếu đỉnh c̣n dấu trưng thường
tùng thu c̣n rậm mấy hàng xanh xanh
Nhờ hồng phúc gội cành ḥe quê
Đượm hơi dương, giây rể cùng tươi
Non Nam lần chúc tuổi trời
Dư5ng câu Thiên bảo, bầy lời Hoa-Phong
những ao ước trập trùng tuổi hạc
Nguyên trăm năm ngỏ được vầy vui
Nào hay sông cạn bể vùi
Ḷng trời dáo dở, vận người biệt ly



 

Trả lời kèm theo trích dẫn

 

LSB-van_yeu_hoai

Xem Lư Lịch

Gửi tin nhắn tới LSB-van_yeu_hoai

T́m thêm bài của LSB-van_yeu_hoai

Cũ20-03-2004

  #5

Ảnh thế thân của LSB-van_yeu_hoai

LSB-van_yeu_hoai

-=[ Lương Sơn Hảo Hán ]=-

 

Gia nhập: 21-04-2003

Bài viết: 119

Điểm: 66

L$B: 6.284

LSB-van_yeu_hoai đang offlineGửi tin qua AIM tới LSB-van_yeu_hoaiGửi tin qua Yahoo tới LSB-van_yeu_hoai

 

Từ tháng hạ, mưa hè trái tiết
Xót ḿnh rồng mỏi mệt chẳng yên
Xiết bao kinh sợ lo phiền
Miếu thần đă đảo, thuốc tiên lại cầu
Khắp mọi chốn đâu t́m rước
Phương pháp nào đổi được cùng chăng ?
Ngán thay máy tạo bần bằng
Bóng mây thoắt đă ngất chừng xe loan
Cuộc tụ tán bi hoan kíp bấy ?
Kể sum vầy đă mấy năm nay ?
Lênh đênh chút phận bèo mây
Duyên kia đă vậy, thân này nương đâu ?
Trằn trọc suốt đêm thâu, ngày tối
Biết cậy ai dập nổi bi thương ?
Trông mong luôn những mơ màng
Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như say
Khi trâ5n gió hoa bay thấp thoáng
Ngơ4 hương trời bảng lảng c̣n đâu
Vô5i vàng sửa áo lên chầu
Thương ôi ! quạnh quẽ, trước lầu nhện giăng !
Khi bóng giăng lá in lấp lánh
Ngơ4 tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi
Thương ôi ! vắng vẻ, giữa trời sương so !
Tường phong thái xót xa đ̣i đoạn
Mă5t rồng sao cách diễn lâu nay ?
Có ai chốn ấy về đây ?
Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành
Nẻo u-minh khéo chia đôi ngả
Nghĩ đ̣i phen nồng nă đ̣i phen
kiê1p này chưa trọn chữ duyên
Ước xin kiếp khác vẹn nguyền lửa hương
Nghe trước có đấng vương Thang-Vơ
Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao
Mà may áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước biết bao công tŕnh
Nghe rành rành trước vua Nghiêu-Thuấn
Công đức giầy, ngự vận càng lâu
Mà nay lượng cả ân sâu
Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần
Công nhường ấy, mà nhân nhường ấy
Cơi thọ sao hẹp mấy hóa công ?
Rô5ng cho chuộc được tuổi rồng
Đổi thân ắt hẳn bỏ ḷng tội ngươi
Buồn thay nhẽ ! sương rơi gió lọt !
Cảnh đ́u hiu thánh thót châu sa
Tưởng lời di chúc thiết tha
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê
Buồn thay nhẽ ! Xuân về hoa ở
Mối sầu riêng, ai gỡ cho xong ?
Quyết liều mong vẹn chữ "ṭng"
Trên giường nào ngại, giữa gịng nào e !
C̣n trứng nước thương v́ đôi chút
Chư4 t́nh thâm chưa thoát được đi
Vậy nên nấn ná đôi khi
H́nh tuy c̣n ở, phách th́ đă theo
Theo buổi trước ngự đèo Bồng-đảo
Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân
Theo xa thôi lại theo gần
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa
Đương theo bổng tiếng gà sực tỉnh
Đau đớn thay ! ấycảnh chiêm bao !
Mơ màng thêm nỗi khát khao !
Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ?
Tưởng thôi, lại bồi hồi trong dạ
Nguyện đồng sinh sao đă kíp phai ?
Xưa sao sớm khỏi, khuya bày
Nặng ḷng vàng đá, cạn lời tóc tơ ?
Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ
T́nh cô đơn, ai kẻ xét đâu ?
Xưa sao gang tấc gần chầu
Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca ?
Giờ sao bỗng cách xa đôi cơi
Tin hàng huyên không hỏi thăm lênh ?
Nửa cung gẩy phím cầm lành
Nỗi con côi cút, nỗi ḿnh bơ vơ !
Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đời lúc
Tiếng tử qui thêm giục ḷng thương !
Năo người thay ! cảnh tiên hương
Dạ thường quanh quất, mắt thường ngó trông !
Trông mái đông , lá buồn xuôi ngược
Thấy mênh mông những nước cùng mây !
Đông rồi th́ lại trông tây
Thấy non ngân-ngất, thấy cây rườm rà !
Trông nam thấy nhạn sa lác-đác
Trông bắc thôi, ngàn bạc mầu sương
No trông trời đất bốn phương
Cơi tiên khơi thẫm biết đường nào đi ?
Cậy ai có phép ǵ tới đó
Dưng vật thường, xin ngỏ ḷng trung
Này gương là của Hán-Cung
Ơn trên xưa đă soi chung đ̣i ngày
Duyên hảo-hợp xót rầy nên lẽ
Bụng ai hoài lạnh ghé v́ đâu ?
Xin đưa gương ấy về chầu
Ngơ xoi cho tỏ, gót đầu mong ơn !
Tưởng linh-sản nhơn-nhơn c̣n đâu
Nơi sinh cơ có thấu cho không ?
Cung xanh đương tuổi ấu xung
Di mưu sao nỡ quên ḷng đoái thương ?
Gót lân chỉ mấy hàng lấm chấm
Đầu mũ mao, ḿnh tấm áo gai
U-ơ ra trước hương-đài,
Tưởng quang cảnh ấy, chua cay đường nào !
Trong sáu viện, ố đào, ủ liễu
Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê
Long đong xa cách hương quê
Mong theo, lầm lối, mong về, tủi duyên
Dưới bệ ngọc, hàng uyên vơ vơ
Cắt chân tay thương khó xiết chi !
Hang sâu nghe tiếng thương bi
Kẻ sơ c̣n thế, huống ǵ người thân !
Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát
Mạch sầu tuôn, ai tát nên vơi ?
Càng trông càng một xa vời
Tấc ḷng thảm thiết, chín trời biết chăng ?
Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi
Gương Hằng-Nga đă bụi màu trong
Nh́n gương càng thẹn tấm ḷng
Thiên duyên lạnh lẽo đêm đông biên hà
Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn
cánh hải đường đă quện giọt sương
trông chim càng dễ đoạn trường
Uyên-ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi
cảnh nào cũng bùi ngùi cảnh ấy
Tiệc vui mừng c̣n thấy chi đâu ?
Phút giây băi bể, nương dâu
Cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?
Chữ t́nh nghĩa trời cao, đất rộng
Nỗi đoạn trường c̣n sống, c̣n đau
Mấy lời tâm sự trước sau
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho !

~~oOo~~

Ngọc-Hân công chúa, sau khi an táng vua Quang-Trung xong v́ quá nhớ tiếc Ngài và cảm thương ḿnh, nên mới làm ra bài i Tư Văng này. Ư bà nói : giữa lúc gió đưa hiu hắt, pḥng tiêu lạnh lẽo, dưới thềm hoa cỏ úa rầu, bà nhớ vua Quang-Trung mà ngóng lên trời để ḥng nh́n xem Ngài ở nơi nào ?

Nhưng... Chỉ thấy ở trên đỉnh núi, cái cầu của Ngài lên tiên đă bị mây tỏa mịt mù ! Bà trách cái nhân duyên sao lỡ làng đến thế ? Sao sầu thảm đến thế ? Những cái sầu nếu đem đổ đi, có thể làm cho bể dạt, đem chất lại , có thể cao đến ngất trời ! Nhờ vua Quang-Trung hết ḷng yêu đương, nên bà được ở vào một ngôi cao, sang trọng, hưởng cảnh mày mặt rỡ ràng.

Tuy non nước nhà Lê đă bị thay đổ, nhưng cái nguồn t́nh ái cua vua vâ4n không vơi đi chút nào. Yêu hoa nhớ đến gốc hoa, vua yêu bà, nhớ đến ḍng dơi nhà bà mà đ́nh miếu họ Lê vẫn c̣n cúng tế, lăng tẩm họ Lê, cây ṭng, cây thu vẫn rườm rà xanh tốt. Con cháu vua Lê cũng nhờ hồng phúc mà vẻ vang.

Mỗi lần có lễ chúc thọ, bà muốn vua cũng thọ như trái núi Nam, đă chúc tụng vua như thơ Thiên-bảo chúc vua nhà Chu và lời Hoa-Phong chúc vua Đường-Nghiêu. Mong tuổi vua chồng chất như tuổi con hạc. Không ngờ việc đời không thể biết trước, cũng như sông có lúc cạn, bể có lúc bị vùi, ḷng trời thật dáo dở, khiến cho vận người không thể tránh được một cuộc chia ĺa...

Bài Ai Tư Văng của Ngọc-Hân Công chúa giống như Cung-oán ngâm khúc, v́ có nhiều chỗ đối nhau từng đoạn của Ôn-như-Hầu và Chinh-phụ-Ngâm của Đặng-trần-Côn. Ư tứ hoạt bát, lời văn lâm ly như những câu này :

"Lênh đênh chút phận bèo mây
Duyên kia đă vậy, thân này nương đâu? "

hay là

"Chữ t́nh nghĩa trời cao đất rộng
Nỗi đoạn trường c̣n sống, c̣n đau... "

hay là

"Buồn thay nhẽ xuân về, hoa ở
Mối sầu riêng ai gỡ cho ra..."

Thật là, lời hay, ư mới, thiết t́nh, thiết cành nếu không phải người thương chồng một cách thiết tha và tủi thân góa bụa bơ vơ, đau đớn, th́ không thể nói hết nỗi ḷng đau của ḿnh trong mấy vần thơ đó.

Một áng văn chương bất hủ, xứng đáng cho chị em chúng ta nhắc nhở đến .

**Sưu Tầm**



 

Trả lời kèm theo trích dẫn

 

LSB-van_yeu_hoai

Xem Lư Lịch

Gửi tin nhắn tới LSB-van_yeu_hoai

T́m thêm bài của LSB-van_yeu_hoai

Cũ29-03-2004

  #6

Ảnh thế thân của langdu

langdu

-=[ Lâu La ]=-

 

Gia nhập: 28-02-2004

Bài viết: 14

Điểm: 2

L$B: 6.279

langdu đang offline

 

Đệ cũng không biết chính xác là sao nhưng ở quê của đệ có câu ḥ : "Số đâu có số lạ lùng - Con vua lại lấy hai chồng làm vua" , theo các bậc bô lăo th́ đây là câu ḥ ám chỉ Công chúa Ngọc Hân tái giá với vua Gia long .
Đệ chỉ biết vậy thôi , có ǵ mong các huynh đệ chỉ giáo giùm !



 

Trả lời kèm theo trích dẫn

 

langdu

 

Xem Lư Lịch

 

Gửi tin nhắn tới langdu

 

T́m thêm bài của langdu

 

Cũ30-03-2004

  #7

Ảnh thế thân của Chau Nhuoc Lan

Chau Nhuoc Lan

-=[ Lâu La ]=-

 

Gia nhập: 03-03-2004

Bài viết: 25

Điểm: 4

L$B: 6.571

Chau Nhuoc Lan đang offlineGửi tin qua Yahoo tới Chau Nhuoc Lan

 

Trích từ CÔNG CHÚA ĐÔNG ĐÔ, HOÀNG HẬU PHÚ XUÂN NÀNG LÀ AI?

MINH Vũ HỒ VĂN CHÂM



Trên dưới hai trăm năm nay, trong dân gian thường truyền tụng câu ca dao:

Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua


Con vua đây là con vua Hiển tông triều Hậu Lê. Nhà Hậu Lê đóng đô ở Hà nội ngày nay, thời bấy giờ gọi là Đông đô. Nàng là công chúa Đông đô. Hai đời chồng vua th́ một đời chồng là vua nhà Nguyễn Tây Sơn, c̣n đời chồng kia là vua sáng lập nhà cựu Nguyễn. Cả hai triều vua Nguyễn Tây Sơn và cựu Nguyễn đều đóng đô ở thành phố Huế ngày nay, thời bấy giờ gọi là Phú Xuân. Nàng là Hoàng hậu Phú Xuân. Vậy nàng là công chúa Đông đô, Hoàng hậu Phú Xuân. Nàng quả là một nhân vật phi thường. Nàng là ai vậy?

Trong lịch sử cận đại Việt Nam, hễ nói đến công chúa con vua mà lại lấy chồng vua, làm hoàng hậu, là người ta nghĩ ngay đến công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Lê Hiển tông, gả làm vợ vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn. dựa vào câu hát dân gian trên đây, người ta lại cho rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa Lê Ngọc Hân được vua Gia Long lập làm Đệ Tam cung, cho nên bà là công chúa mà lại lấy chồng hai lần, cả hai đời chồng đều là chồng vua cả. Lại cũng có truyền thuyết cho rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, chung cục của Lê Ngọc Hân vô cùng bi thảm. Bà đă cùng hai con trốn tránh được một thời gian rồi bị bắt và bị xử cực h́nh.

Sự thực như thế nào? Nàng công chúa Đông đô, Hoàng hậu Phú Xuân đích thực là ai vậy?

Công chúa Lê Ngọc Hân sinh năm 1771, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32, là công chúa thứ 21 con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Bà mẹ công chúa Lê Ngọc Hân tên là Nguyễn Thị Huyền, người làng Phù Ninh, huyện Đông ngàn, tỉnh Bắc ninh. Công chúa Lê Ngọc Hân là em Thái tử Lê Duy Vỹ và là cô Hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ tức là người sau này lên nối ngôi vua Lê lấy niên hiệu là Chiêu Thống. Khi Nguyễn Huệ làm tiết chế, thống lĩnh quân đội Tây Sơn ra đánh Bắc Hà với danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh" vào năm 1786 th́ công chúa Lê Ngọc Hân mới 16 tuổi. V́ Nguyễn Huệ một phần nào cũng có bụng tôn phù nhà Lê, mặt khác do sự mối mai thu xếp của Nguyễn Hữu Chỉnh muốn bắc cầu thân gia giữa vua Lê Hiển tông và Tiết chế Nguyễn Huệ, nên vua Lê Hiển tông đă đem công chúa Lê Ngọc Hân gả cho Nguyễn Huệ và phong Nguyễn Huệ làm Nguyên súy dực chính phù vận Uy Quốc công.

Từ cờ thắm trở vời đất bắc
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy

Hai vợ chồng Nguyễn Huệ lưu lại Đông đô một thời gian ngắn. Sau khi vua Lê Hiển tông băng hà, công chúa Lê Ngọc Hân theo chồng về Phú Xuân. Đến năm 1789, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, phong cho công chúa Lê Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng hậu. Thế là nàng công chúa Đông đô đă trở thành Hoàng hậu Phú Xuân.
Bắc cung Hoàng hậu họ Lê, bà là lá ngọc cành vàng, quê ngoại lại là xứ Kinh Bắc tài hoa văn vật, nên bà là một phụ nữ thông minh, đức hạnh và nhan sắc, thật là vẹn toàn mọi vẻ. Ngày mới thành hôn với Nguyễn Huệ, trên đường đi bái yết các tiên đế ở Thái miếu trở về, Nguyễn Huệ hỏi bà: "Các hoàng tử và công chúa, mấy ai được vinh hạnh như nàng, được thành thân với ta, nàng cảm thấy như thế nào?" Tuy mới 16 tuổi đầu, công chúa Lê Ngọc Hân đă tỏ rơ là người giỏi ứng đối: "Nhà vua quen sống đạm bạc, bổng lộc ít ỏi, các hoàng tử và công chúa đều thanh bạch, nay thiếp được nâng khăn sửa túi cho chúa công, cũng tỷ như giọt nước trên không trung rơi vào nơi lầu son gác tía, thân phận thiếp quả là may mắn hơn cả." Nguyễn Huệ rất đẹp ḷng.

Bà có nhiều ảnh hưởng trong các quyết định quan trọng của Nguyễn Huệ. Khi vua Lê Hiển tông băng hà, Nguyễn Huệ đă nghe lời công chúa Lê Ngọc Hân, có ư muốn lập Sùng Nhượng công Duy Cận lên ngôi thiên tử. Nhưng hoàng tộc nhà Lê v́ việc đó mà đ̣i tước bỏ sổ bộ của công chúa. Nguyễn Huệ lại theo lời bà mà chịu lập Hoàng tử tôn Duy Kỳ lên ngôi vua.

Vừa thông minh,vừa khôn khéo, trong thời gian làm Hoàng hậu ở Phú Xuân, công chúa Lê Ngọc Hân chẳng những chỉ làm đẹp ḷng Đức chí tôn mà c̣n khuynh loát cả triều đ́nh như chúng ta sẽ thấy về sau này ảnh hưởng của bà lớn lao như thế nào trong việc tuyển chọn hoàng hậu cho vua Cảnh Thịnh. Thật vậy, bà đă quyết định đem em gái là công chúa Lê Ngọc B́nh, cũng là công chúa con vua Lê Hiển tông như bà, vào làm chính cung cho Hoàng đế nối nghiệp nhà Tây Sơn là vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản.

Công chúa Lê Ngọc Hân lấy Nguyễn Huệ năm 1786, thụ phong Bắc cung Hoàng hậu năm 1789. Bà sinh hạ một trai là Nguyễn Văn Đức và một gái là Nguyễn Thị Ngọc. Công chúa Lê Ngọc Hân mất năm 1799, đương triều vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn. Năm đó bà mới 29 tuổi. Bà được truy tặng là Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu.

Công chúa Lê Ngọc Hân vừa thông Hán tự, vừa giỏi quốc văn. Lúc hoàng đế Quang Trung băng hà vào ngày 15 tháng 9 năm 1792, bà mới có 22 tuổi. Bà chỉ mới chung sống với nhà vua vỏn vẹn có 6 năm trời, có được hai mặt con. Làm sao có thể tưởng tượng hết tâm trạng thống khổ của bà lúc bấy giờ. Rất may cho hậu thế là bà có soạn một bài văn tế bằng quốc âm để tế nhà vua. Trong nỗi bất hạnh lớn lao của công chúa Lê Ngọc Hân là cái may mắn tột cùng của nền văn học nước nhà. Bà đă để lại cho đời sau bài Ai Tư Văn mà tất cả chúng ta đều đă biết. Tuy không thể so sánh ngang hàng với truyện Kim Vân Kiều hay Khúc Ngâm Chinh Phụ, nhưng bài Ai Tư Văn cũng là một áng văn rất đáng trân trọng, cũng là một vật báu trong kho tàng văn học nước nhà. Trong bài điếu văn có nhiều câu nhiều chữ đọc lên như oán như than, khiến người thưởng lăm cũng thấy nao ḷng. Phải là người trong cuộc, và tâm hồn hết sức tinh tế, t́nh cảm hết sức bén nhảy, mới có thể giải bày tâm trạng bi thương thành những lời thơ năo nùng diễm tuyệt nhường ấy! Nỗi buồn nào lê thê bằng nỗi buồn của người góa phụ c̣n trẻ đau đớn than van về cái chết đột ngột của người chồng vương giả tài cao mà mện đoản:

Khi trận gió hoa bay thấp thoáng
Ngỡ hương trời bảng lảng c̣n đâu
Vội vàng sửa áo lên chầu
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng!

và niềm xót xa nào bi thiết hơn niềm xót xa của người mẹ trẻ v́ thương con c̣n trứng nước mà chưa thể liều thân cho vẹn chữ ṭng:

Quyết liều mong vẹn chữ ṭng
Trên rường nào ngại, giữa gịng nào e
C̣n trứng nước thương v́ đôi chút
Chữ thân t́nh chưa thoát được đi

Công chúa Lê Ngọc Hân là người tài sắc vẹn toàn. Bà sinh trưởng nơi chốn điện ngọc đền vàng, đă là công chúa con vua lại lấy chồng làm vua. Sau khi Hoàng đế Quang Trung băng hà, Hoàng thái tử Quang Toản lên kế vị, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh. Tuy vua Cảnh Thịnh là con của bà Vũ hoàng Chính hậu họ Phạm, nhưng lúc bấy giờ bà này đă mất, nên công chúa Lê Ngọc Hân được tôn lên ngôi vị Hoàng Thái hậu. Hơn nữa, bà lại c̣n là chị ruột của công chúa Lê Ngọc B́nh lúc bấy giờ là Hoàng hậu vợ vua Cảnh Thịnh. Trong chốn nội đ́nh, địa vị của bà như vậy có thể nói là tột cùng tôn quí.
Năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, hưởng dương 29 tuổi. Lễ bộ Thượng thư Đoan Nham hầu Phan Huy Ích phụng chỉ soạn bài văn tế cho Hoàng đế Cảnh Thịnh đích thân đọc trước linh sàng Hoàng thái hậu họ Lê. Bà được truy tặng là Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Bài văn tế này đă được Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm t́m thấy và công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà nội.

Vậy rơ ràng công chúa Lê Ngọc Hân đă mất tại Phú Xuân, đương triều vua Cảnh Thịnh. Tuy vậy, chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân vẫn là một đề tài cho nhiều câu chuyện thành văn hoặc truyền khẩu khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau là đằng khác. Nguyên do là sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, con cháu nhà Tây Sơn bị tuyệt diệt, các tài liệu về nhà Tây Sơn bị cấm tàng trữ, nên chẳng c̣n ai có cơ hội và phương tiện nghiên cứu thân thế và sự nghiệp các nhân vật thời Tây Sơn một cách chính xác và rơ ràng. Các tài liệu về nhà Tây Sơn được lưu hành chỉ thuần một loại là các sử liệu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn mà thôi. Hơn nữa, những người đặt chuyện dă sử lại có thói quen dệt gấm th́ thường thêm hoa, để cho câu chuyện đượm phần ly kỳ hấp dẫn. Bởi những lẽ đó mà chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân được kể lại trong các câu chuyện thành văn hay truyền khẩu đă không đúng với sự thật. Không có câu chuyện nào kể rằng công chúa Lê Ngọc Hân đă chết khi nhà Tây Sơn đang c̣n trị v́ ở Phú Xuân. Ngay cả việc ông Hoa Bằng trên tạp chí Tri Tân năm 1943 xuất bản tại Hà nội đă công bố bài Văn tế Vũ Hoàng hậu do Phan Huy Ích phụng chỉ vua Cảnh Thịnh viết để nhà vua đích thân đọc trước linh sàng công chúa Lê Ngọc Hân, cũng chẳng thay đổi được t́nh trạng ngộ nhận nói trên. Từ 1943 đến nay, các huyền thoại về công chúa Lê Ngọc Hân truyền tụng trong dân gian cũng như các tuyện dă sử viết về chung cục công chúa Lê Ngọc Hân xuất hiện trên sách báo vẫn cứ một chiều đi theo con đường cũ sai lạc bấy lâu nay. Những truyền thuyết và chuyện dă sử về công chúa Lê Ngọc Hân từ trước đến nay có thể xếp vào hai loại. Loại thứ nhất nói rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa Lê Ngọc Hân đă đưa hai con đi trốn, sống trà trộn trong dân chúng được một thời gian rồi rốt cục cũng bị phát hiện và bị giải về Huế xử cực h́nh. Loại thứ hai nói rằng sau khi diệt nhà Tây Sơn, vua Gia Long đă sách lập công chúa Lê Ngọc Hân làm Đệ Tam cung, và bà đă có hai con với nhà vua là các hoàng tử Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương mà từ đường đến nay vẫn c̣n ở ngoại ô thành phố Huế.

Những truyền thuyết và chuyện dă sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc loại thứ nhất th́ đại thể về nội dung đều giống nhau, có khác biệt là chỉ khác biệt về địa điểm đi lánh nạn mà thôi. Sau khi nhà Tây Sơn mất, công chúa Lê Ngọc Hân đem hai con chạy trốn vào Quảng nam, sống trà trộn trong dân chúng được một thời gian, cuối cùng bị phát hiện, bị bắt đưa về Phú Xuân và bị xử án tam ban triều điển.

Nhiều truyền thuyết khác th́ nói rằng công chúa Lê Ngọc Hân đem các con chạy trốn vào quê chồng ở B́nh Định, rồi cũng bị bắt và cũng bị xử cực h́nh như đă nói ở trên. Trong những thập niên 60, 70 lại có những câu chuyện ly kỳ hơn về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân, cả thành văn lẫn truyền khẩu, theo đó th́ công chúa Lê Ngọc Hân đă mang các con chạy trốn vào tận Đồng nai Gia định, nhờ đó mà tránh được tai mắt và nanh vuốt kẻ thù. Nhiều câu chuyện truyền miệng lại c̣n đi xa hơn, kể rằng sau khi nuôi dạy các con khôn lớn nên người, công chúa đă thí phát, tu hành đắc đạo và trở thành Giáo chủ của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Nhiều người trong Nam mang họ Nguyễn lại tự nhận là hậu duệ của Hoàng tử Nguyễn Văn Đức - con Đại đế Quang Trung và Vũ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Gần đây, ở hải ngoại lại có một vài tác giả viết dă sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân, viết rằng sau khi Đông đô thất thủ, nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa đă đem hai con chạy trốn về một vùng quê hẻo lánh ở Hải dương, sống lén lút trà trộn trong dân chúng được một thời gian rồi rút cục cũng bị phát hiện, bị bắt và bị giải về Phú Xuân lănh án tử h́nh.

Tất cả những câu chuyện về chung cục bi thương huyền hoặc của công chúa Lê Ngọc Hân là hoàn toàn không phù hợp với sự thật lịch sử bởi một lẽ giản đơn và rơ ràng là công chúa Lê Ngọc Hân đă chết khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi. Công chúa Lê Ngọc Hân mất vào năm 1799, dưới triều vua Cảnh Thịnh, nghĩa là trước khi kinh thành Phú Xuân thất thủ. Công chúa Lê Ngọc Hân đă được truy tặng là Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Công chúa Lê Ngọc Hân đă được ma chay tống táng tại kinh thành theo đúng nghi thức vương giả dành cho một bậc mẫu nghi thiên hạ. Bằng chứng hùng hồn là bài văn tế Vũ Hoàng Hậu t́m thấy trong Dụ Am Văn Tập của Phan Huy Ích mà Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đă công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà nội. Công chúa Lê Ngọc Hân đă chết đương thời vua Cảnh Thịnh trị v́ th́ làm ǵ có câu chuyện công chúa Lê Ngọc Hân phải lâm cảnh bôn ba lưu lạc sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi.

Các truyền thuyết và truyện dă sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc loại thứ hai so với những câu chuyện trên đây th́ ly kỳ hơn và chứa đựng nhiều t́nh tiết hư cấu xoay quanh các sự kiện lịch sử có thật. Thí dụ có chuyện kể rằng đầu năm Tân Dậu 1801, Nguyễn vương theo kế sách "Tượng kỳ khí xa" của Nguyễn Văn Thành, đă bỏ rơi Vơ Tánh bị vây trong thành B́nh Định để đem toàn lực ra đánh úp Phú Xuân. Ngày mồng 1 tháng 5 năm Tân Dậu, Nguyễn vương vào cửa Tư Dung, đến tối vượt phá Hà trung tiến chiếm bến đ̣ Trừng Hà, ngày hôm sau đánh tan quân của vua Cảnh Thịnh ở cửa Eo và sáng ngày mồng 3 tháng 5 đem đại binh vào thành Phú Xuân dụng quân thần tốc đến độ vua Cảnh Thịnh thua chạy không kịp mang theo gia quyến. Tối hôm mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu, Nguyễn vương đi tuần tra trong thành và đă gặp người thiếu phụ vương giả để rồi nên duyên vợ chồng.

Lại có chuyện kể rằng khi vua Gia Long quyết định sách lập công chúa Lê Ngọc Hân làm Đệ Tam cung, triều thần có người can gián, cho rằng công chúa chỉ là vật dư thừa của Tây Sơn, và nhà vua đă trả lời rằng chúng ta tiêu diệt Ngụy Tây th́ giang san này, thành quách này, nhất nhất há chẳng phải lấy lại từ tay Ngụy Tây hay sao, như thế cũng là vật dư thừa của Tây Sơn vậy.

Lại có chuyện kể rằng sau khi vua Gia Long băng hà, Quảng Oai công yểu tử, Thường Tín Quận vương đă lập phủ đệ riêng, th́ Đệ Tam cung Lê Ngọc Hân lui về dưỡng già tại quê mẹ ở Bắc ninh cho đến lúc lâm chung. T́nh cảnh công chúa "vinh diệu một đời có thể nói là cùng tột, thế mà trong những ngày xế bóng lưu lạc nơi quê ngoại, tưởng tới chuyện xưa cảnh cũ, há chẳng nao ḷng mà than thở cho Tạo vật đă khéo trêu ngươi, không có việc ǵ lại không xảy ra được khiến phát sinh nỗi cảm khái vô cùng cho cuộc sống phù du!"

(Hậu hứa Bắc quy tùng mẫu thị hương quán trú ư Bắc ninh nhi chung yên. Khảo chúa tiểu tắc vi hoàng nữ, trưởng tắc vi hoàng hậu, kế vị hoàng thái hậu. Kỳ nhất sinh chi vinh diệu khả vị cực hỉ. Cập kỳ văn niên bất miễn ư lưu lạc, tưởng Chúa ư thử th́ phủ kim tư tích, xúc cảnh hưng hoài, ninh bất trướng nhiên thán Tạo vật chi lộng nhân, mỹ sở bất chí, nhi sinh vô cùng chi cảm khái tai!)

(Ngọc Hân công Chúa dật sự, Nam Phong Tạp chí, số 103, 1926)

Nhưng độc đáo hơn hết, phải kể đến bản gia phả của họ Nguyễn hoàng tộc. Đó là cuốn Hoàng Triều Ngọc Phả, bản quốc ngữ, do Tôn Nhân Phủ biên soạn và ấn hành dưới triều vua Thành Thái. Trong cuốn sách này, ở các chương nói về Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương con vua Gia Long, rơ ràng mẹ đẻ của ngài được ghi là Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Thật là rơ ràng và chính xác như một cộng một là hai, như hai cộng hai là bốn, không c̣n bàn căi ǵ nữa cả. Người viết đă chính mắt được đọc những ḍng chữ đó vào năm 1988 tại nhà nhạc phụ, sách do ông Tôn Thất Yên đưa cho mượn. Ông Tôn Thất Yên lúc bấy giờ là người được hội đồng Nguyễn Phước tộc ủy thác điều hành công việc thường ngày của Hội đồng Nguyễn Phước tộc ở Sài g̣n, và được hội Trung Việt Ái hữu ủy thác trông nom quản lư nghĩa trang G̣ Dưa, Thủ đức.

Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương là những nhân vật có thật, tuy rằng Quảng Oai công yểu tử và Thường Tín Quận vương ngày nay không có con cháu nối ḍng, nhưng từ đường các ngài hiện nay ở vùng ven đô Huế vẫn c̣n hương khói, các bài phiên hệ thi về phần các ngài vẫn c̣n được truyền tụng, v́ vậy việc gia phả hoàng tộc do Tôn Nhân Phủ ấn hành ghi rằng mẹ đẻ các ngài đích thị là công chúa Lê Ngọc Hân là một sự kiện không thể không lấy làm trọng yếu hàng đầu trong việc nghiên cứu chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân.

Vậy th́ vấn đề được đặt ra là công chúa Lê Ngọc Hân có lấy vua Gia Long hay không. Nếu công chúa Lê Ngọc Hân không lấy vua Gia Long th́ không c̣n có vấn đề công chúa Lê Ngọc Hân được sách lập làm Đệ Tam cung, cũng như không c̣n có sự kiện công chúa Lê Ngọc Hân là mẹ đẻ các hoàng tử Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương. Mà chúng ta đă biết địch xác là công chúa Lê Ngọc Hân chết vào năm 1799, dưới triều vua Cảnh thịnh, khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi, vậy th́ khi vua Gia Long tiến quân vào thành Phú Xuân tháng 5 năm Tân Dậu, dương lịch 1801, th́ công chúa Lê Ngọc Hân đă mất trước đó hai năm, h́nh hài đă nằm sâu dưới ḷng đất lạnh, th́ làm sao sống lại kết duyên vợ chồng với v́ vua chiến thắng. Bởi lẽ đó, những câu chuyện thêu dệt chung quanh việc công chúa Lê Ngọc Hân lại một lần nữa lấy chồng vua là hoàn toàn không có căn cứ, là hoàn toàn sai sự thật.

Nhưng c̣n cuốn ngọc phả bản quốc ngữ của Tôn Nhân Phủ đă khẳng định công chúa Lê Ngọc Hân là mẹ đẻ của Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương? Xin thưa ngay rằng cuốn gia phả này là bản quốc ngữ, không phải bản hán văn, lại không phải do Quốc sử quán biên soạn mà là tác phẩm phiên dịch của Tôn Nhân Phủ từ bản hán văn cũng của Tôn Nhân Phủ mà ra, mà bản hán văn này th́ trong các chương nói về Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương đă viết rằng mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Cái lối hành văn cổ điển bằng Hán tự th́ có khi nào nêu rơ tục danh đâu. Mà tác giả bản Hán văn khi viết rằng mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, th́ đă chắc đâu muốn khẳng định rằng đó là công chúa Lê Ngọc Hân. Biết đâu tác giả bản Hán văn muốn nói đến một nàng công chúa Lê Ngọc khác, cũng con vua Hiển tông nhà Hậu Lê? Mà điều này th́ những người phiên dịch ra quốc ngữ đă không hề hay biết, lại thêm nặng t́nh tân học, viết lách tŕnh bày việc ǵ cũng muốn tách bạch rơ ràng nên đă phiên dịch nhóm chữ "Công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển tông" thành "Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Hiển Tông" theo sở kiến chủ quan của ḿnh.

Như vậy rơ ràng hai hoàng tử Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương, con vua Gia Long, đích thực là cháu ngoại vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Chỉ v́ bản quốc ngữ do sở kiến chủ quan của người phiên dịch đă khẳng định mẹ đẻ hai ngài là công chúa Lê Ngọc Hân thay v́ cứ để là công chúa Lê Ngọc như nguyên bản hán tự, nên mới nảy sinh ra điểm phi lư là người đă chết mấy năm trước đó bây giờ c̣n đâu mà lại lần nữa đi lấy chồng để rồi sinh đậng hai con trai. Lại nữa cuốn Hoàng Triều Ngọc Phả của Tôn Nhân Phủ là gia phả thành văn của Nguyễn Phước tộc, là tài liệu chính thức về phả hệ hoàng phái, không thể nào được trước tác tùy tiện và thiếu chính xác được. Bởi vậy, Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương đích thực là cháu ngoại vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, mẹ là công chúa Lê Ngọc, nên trong gia phả mới ghi chép rơ ràng như vậy. cũng không thể có trường hợp thấy sang bắt quàng làm họ, thấy công chúa con vua lá ngọc cành vàng bèn nhận càng là bên ngoại cho thêm phần vẻ vang, bởi một lẽ giản đơn họ Nguyễn cũng là đại quư tộc, đă ở ngôi chúa Nam Hà ba trăm năm rồi, và hiện tại đang giữ ngôi vua thống nhất thiên hạ.cho nên một khi mà Hoàng Triều Ngọc Phả của Tôn Nhân Phủ đă ghi chép như vậy th́ Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương con của vua Gia Long đích thực là cháu ngoại vua Hiển tông nhà Hậu Lê. Nhưng nếu đă khẳng định rằng mẹ đẻ của Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương không phải là công chúa Lê Ngọc Hân th́ đương nhiên phải nêu vấn đề mẹ đẻ các ngài là công chúa con vua, cũng đă có một đời chồng trước là chồng vua, bây giờ lấy đời chồng hai là vua Gia Long sinh hạ được hai hoàng tử. Mẹ đẻ của các ngài quả là một nhân vật dị thường đúng như lời truyền tụng của nhân gian trong gần hai trăm năm nay:

Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua.

Con vua là con vua Lê Hiển tông nhà Hậu Lê. Hai đời chồng vua th́ đời chồng vua trước là vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, c̣n đời chồng vua thứ hai là vua Gia Long, vua sáng nghiệp nhà cựu Nguyễn. Bà là công chúa Lê Ngọc B́nh, công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, em ruột công chúa Lê Ngọc Hân, là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, Đệ Tam cung vua Gia Long nhà cựu Nguyễn, mẹ đẻ các hoàng tử Quảng Oai công "sinh năm 1809" và Thường Tín Quận vương "sinh năm 1810".

Thân thế và sự nghiệp hai bà Lê Ngọc Hân và Lê Ngọc B́nh có nhiều điểm tương đồng, mà những điểm tương đồng đó lại là những điểm rất căn bản. Hai bà đều là công chúa con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, hai bà đều sinh trưởng ở ngoài Bắc, nghĩa là cả hai đều là công chúa Đông đô. Lớn lên hai bà đều lấy chồng trong Trung, chồng của hai bà đều là hoàng đế nhà Nguyễn Tây Sơn, nghĩa là cả hai bà đều là Hoàng hậu Phú Xuân. Do những điểm tương đồng căn bản đó mà những câu chuyện truyền tụng về cuộc đời hai bà đan kết vào nhau, theo với không gian và thời gian mà dần dà thay đổi, để rồi lẫn lộn với nhau, cuối cùng th́ chuyện có thật về người này trở thành chuyện huyền thoại của người kia. Nói rơ hơn, công chúa Lê Ngọc Hân chỉ lấy chồng một lần, c̣n công chúa Lê Ngọc B́nh, sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, mới được vua Gia Long sách lập làm Đệ Tam cung, mới là người phụ nữ lạ thường "con vua lại lấy hai đời chồng vua".

Điều đáng lưu ư là chính sử nhà Cựu Nguyễn không nói ǵ về công chúa Lê Ngọc B́nh, c̣n các sử liệu liên quan đến nhà Nguyễn Tây Sơn th́ tất nhiên dưới triều nhà cựu Nguyễn đă không được lưu hành, tàng trữ. Lại nữa, sự nghiệp của hai hoàng đế Quang Trung và Cảnh Thịnh khác biệt nhau một vực một trời, cho nên sử Tàu, sử ta trong Nam, ngoài Bắc, đâu đâu cũng nói nhiều về vua cha mà ít khi đề cập đến vua con, do đó mà có hệ luận tất yếu là những ǵ liên quan đến vua cha th́ người đời đều biết nhiều hơn những ǵ liên quan đến vua con. Bản thân công chúa Lê Ngọc Hân cũng có nhiều điểm sắc sảo lanh lợi hơn công chúa Lê Ngọc B́nh, nhất là công chúa Lê Ngọc Hân đă thông Hán tự lại c̣n giỏi quốc âm, nổi tiếng v́ bài Ai Tư Văn. Bởi các lẽ đó mà từ trước đến nay chúng ta chỉ nghe nói đến công chúa Lê Ngọc Hân mà không nghe ai đề cập đến công chúa Lê Ngọc B́nh. Chỉ từ sau năm 1975, ty thông tin Văn hoá Nghĩa B́nh ấn hành và phổ biến một số tài liệu liên quan đến thân thế và sự nghiệp các nhân vật đời Tây Sơn, chúng ta mới bắt đầu chú ư các nhân vật như Lê Ngọc B́nh, là công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê và là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản.

Theo các tài liệu do ty Văn hóa Nghĩa B́nh công bố, vua Cảnh Thịnh và công chúa Lê Ngọc B́nh đồng trang lứa với nhau. Vua Cản Thịnh sinh năm 1783, đúng như Đại Nam Chính Biên Liệt truyện và các phúc tŕnh của các giáo sĩ Longer và Le Labousse gởi cho Phái bộ Truyền giáo Nam Hà đă ghi chép. Như vậy, ngày công chúa Lê Ngọc Hân vầy duyên cá nước với Tiết chế Nguyễn Huệ (1786) th́ công chúa Lê Ngọc B́nh mới có 4 tuổi. Đến năm Bính Ngọ (1792), vua Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh lên nối ngôi, cả nhà vua lẫn công chúa mới được 10 tuổi. Thời gian này cả hai đang ở tuổi trúc mă thanh mai. Những năm tiếp theo là những năm Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền nên chắc chắn là công chúa Lê Ngọc Hân dù đă có ư định vẫn chưa thể thực hiện việc kết hợp sắt cầm cho em gái với con chồng. Phải đợi đến sau chính biến năm Ất Măo (1795), phe cánh Thái sư Bùi Đắc Tuyên bị dẹp tan, công chúa Lê Ngọc Hân mới có điều kiện thu xếp đưa em gái lên ngôi Chính cung Hoàng hậu.

Lúc này, các bề tôi thân tín lục tục trở về triều, công chúa Lê Ngọc Hân củng cố lại thế lực trong chốn nội đ́nh và có ảnh hưởng quyết định đến công việc triều đ́nh, th́ cũng là lúc công chúa Lê Ngọc B́nh vừa được 13 tuổi. Như vậy, công chúa Lê Ngọc Hân đối với công chúa Lê Ngọc B́nh th́ vừa là chị ruột, vừa là mẹ chồng. Cả hai đều là công chúa Đông đô con vua Hiển tông nhà Hậu Lê. Cả hai đều trở thành Hoàng hậu Phú Xuân, công chúa Lê Ngọc Hân là Bắc cung Hoàng hậu của Thái tổ Vũ Hoàng đế, công chúa Lê Ngọc B́nh là Chính cung Hoàng hậu của vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản. Đến năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, công chúa Lê Ngọc B́nh vừa được 17 tuổi. Đến năm Tân Dậu (1801), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 9, kinh thành Phú Xuân thất thủ, vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc hà không kịp mang theo gia quyến, th́ công chúa Lê Ngọc B́nh chỉ có 19 tuổi, nếu tính tuổi theo lối ngày nay th́ công chúa Lê Ngọc B́nh chỉ mới 18 tuổi mà thôi. Chính vào thời điểm này Đại Nguyên súy Tổng Quốc chính Nguyễn Phúc Ánh gặp công chúa Lê Ngọc B́nh và năm sau, tức là năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn vương lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, và sắc phong công chúa Lê Ngọc B́nh là Đệ Tam cung, năm ấy công chúa Lê Ngọc B́nh vừa tṛn 20 tuổi.
Tóm lại việc nhà vua Gia Long sách lập công chúa Lê Ngọc B́nh, công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, Hoàng hậu vợ vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, làm Đệ Tam cung là một sự kiện lịch sử có thật rơ ràng và chính xác, mặc dù chính sử nhà Nguyễn không đề cập đến. Công chúa Lê Ngọc B́nh là em ruột công chúa Lê Ngọc Hân. Cả hai đều là công chúa Đông đô, đều được sắc phong Hoàng hậu Phú Xuân. Nhiều câu chuyện truyền tụng trong dân gian đều thêu dệt chung quanh cuộc đời hai bà đan kết vào nhau, lẫn lộn vào nhau, thay đổi dần dà với thời gian và không gian, và đặc biệt là không mấy ai biết đến công chúa Lê Ngọc B́nh mà chỉ biết có công chúa Lê Ngọc Hân thôi, nên cuối cùng, có nhiều chuyện đời thực của bà này lại trở thành huyền thoại về bà kia.

Vậy từ nay chúng ta hăy dứt khoát khẳng định sự kiện công chúa Lê Ngọc Hân chỉ có một đời chồng, và chung cục của bà vẫn là giàu sang tôn quư. Bà là Bắc cung Hoàng hậu của vua Quang Trung, và bà đă chết dưới triều vua Cảnh Thịnh, khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi. C̣n người phụ nữ lạ thường đă là công chúa con vua lại lấy hai đời chồng vua là công chúa Lê Ngọc B́nh, em ruột công chúa Lê Ngọc Hân. Công chúa Lê Ngọc B́nh là con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, có đời chồng thứ nhất là vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn và đời chồng thứ hai là vua Gia Long nhà cựu Nguyễn, đúng như câu ca dao trong dân gian vẫn c̣n truyền tụng đến ngày nay:

Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua.

(trích Giai phẩm Xuân TÂY SƠN Mậu Dần 1998)



 

Trả lời kèm theo trích dẫn

 

Chau Nhuoc Lan

Xem Lư Lịch

Gửi tin nhắn tới Chau Nhuoc Lan

T́m thêm bài của Chau Nhuoc Lan

Cũ02-04-2004

  #8

Ảnh thế thân của TieuHoaVinh

TieuHoaVinh

-=[ Lương Sơn Ẩn Sĩ ]=-

~o0 Dê già 0o~

 

Gia nhập: 30-11-2003

Bài viết: 712

Điểm: 166

L$B: 62.885

TieuHoaVinh đang offlineGửi tin qua Yahoo tới TieuHoaVinh

 

Như các vị đă bàn luận về Ngọc Hân Công chúa tại hạ sẽ đưa về người chồng của bà để các vị hảo hán hiểu thêm về Ngọc Hân và chồng

[center:211d9b9c40]Quang Trung Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải [/center:211d9b9c40]


Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ (1753 - 1792) là vị anh hùng dân tộc vĩ đại của Việt Nam thế kỷ 18, người đă có công thống nhất đất nước, bảo vệ độc lập dân tộc, mở ra một triều đại mới.
Với thiên tài quân sự và chính trị của ḿnh, ông đă lănh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, lần lượt tiêu diệt hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, đánh tan năm vạn quân Xiêm và 20 vạn quân Măn Thanh xâm lược. Triều đại Tây Sơn do ông lập ra tuy ngắn ngủi, song đă để lại dấu ấn sâu đậm về văn hóa, xă hội trong lịch sử dân tộc.

Quang Trung Nguyễn Huệ là người anh hùng áo vải đă đánh đổ cả hai tập đoàn thống trị phản động ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, người đă lập nên những chiến công hiển hách chống quân xâm lược Xiêm và Măn Thanh, thực hiện được khát vọng thống nhất đất nước của dân tộc vào cuối thế kỷ thứ 18.

Tổ tiên xưa của Nguyễn Huệ là họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Sau có một chi dời vào huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Xuân. Theo các cụ ở Hưng Thái, Hưng Nguyên cho biết th́ họ Hồ ở Hưng Thái hằng năm thường có sang Nghi Xuân nhận họ. Trong trận tấn công ra bắc vào tháng 6 năm Ất Mùi (1655), quân Nguyễn chiếm được 7 huyện Nam sông Lam (Nghệ An), bắt dân đưa vào Đàng Trong khai hoang. Sách cũ đều nói tổ bốn đời của Nguyễn Huệ cũng ở trong số di dân ấy, lúc đầu đến ở ấp Tây Sơn Nhất thuộc huyện Quy Ninh, phủ Quy Nhơn. Đến đời Nguyễn Phi Phúc (có sách chép là Hồ Phi Phúc) mới dời đến ở ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn, nay là làng Kiên Mỹ, xă B́nh Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Nghĩa B́nh. Nguyễn Phi Phúc và vợ là Nguyễn Thị Đông sinh ra Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ và một người con gái.

Nguyễn Huệ sinh năm 1753. Thuở nhỏ Nguyễn Huệ c̣n có tên là Thơm, sau gọi là B́nh. Cả ba anh em đều theo học thầy Hiến, một nhà nho bất đắc chí, v́ phản đối chính sách hà ngược của Trương Phúc Loan nên bỏ trốn vào Quy Nhơn mở trường dạy học ở ấp Yên Thái.

Theo Hoa Bằng trong Quang Trung anh hùng dân tộc th́ Nguyễn Huệ tóc quăn, da sần, mắt như chớp sáng, tiếng nói sang sảng như tiếng chuông, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm. Sách Tây Sơn thuật lược c̣n miêu tả đôi mắt Quang Trung "ban đêm khi ngồi không có đèn th́ ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu".

Mùa xuân năm 1771, đất Tây Sơn sôi động, lá cờ nghĩa bằng lụa đỏ dài 10 m được dựng lên với khẩu hiệu lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo và lời hịch kể tội Trương Phúc Loan được truyền đi khắp nơi. Các tầng lớp nhân dân người Kinh, người Thượng đều hăng hái tham gia. Từ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn này, Nguyễn Huệ trở thành lănh tụ kiệt xuất của phong trào nông dân thế kỷ 18 và cũng trở thành người anh hùng dân tộc vĩ đại:

[center:211d9b9c40]Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công tŕnh.[/center:211d9b9c40]
(Ai tư văn - LÊ NGỌC HÂN)

Nguyễn Huệ là nhà quân sự thiên tài. Trong hoạt động quân sự, ông chủ động tập trung lực lượng đánh vào những mục tiêu chiến lược trọng yếu nhất và hành động liên tục, bất ngờ, chớp nhoáng, quyết liệt làm cho đối phương không kịp đối phó.

Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân vào Gia Định đánh tan sào huyệt của quân Nguyễn, bắt giết được Nguyễn Phúc Dương và Nguyễn Phúc Thuần. Sau chiến thắng, ông giao quyền cai quản Gia Định cho các tướng rồi trở lại Quy Nhơn.

Năm 1785, được tin báo quân Xiêm xâm lược, Nguyễn Huệ đem đại binh vào Gia Định. Trong mấy trận đầu, quân Tây Sơn rút lui để nhử giặc vào trận địa mai phục sẵn. Quân Xiêm kéo vào Rạch Gầm và Xoài Mút (phía tây Mỹ Tho) bị phục binh Tây Sơn ở các mặt cùng đổ ập ra tiến công bất ngờ, quyết liệt. 5 vạn quân thủy bộ cùng 300 chiến thuyền bị đánh tan tác, chỉ c̣n vài ngh́n tên sống sót chạy trốn về nước theo đường núi.

Đến trận đại phá 20 vạn quân Thanh đầu năm 1789 th́ thật là kỳ diệu. Cuối năm 1788, quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy đă chiếm Thăng Long. Tiền đội quân Thanh thọc sâu đến tận Hà Nam. Quanh Thăng Long dày đặc một hệ thống những đồn kiên cố ở Hạ Hồi, Ngọc Hồi, Khương Thượng... để bảo vệ.

Ngày 21 tháng 12 năm 1788, nhận được tin báo khẩn cấp của Ngô Văn Sở, ngay ngày hôm sau, tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức thống lĩnh đại quân tiến ra bắc.

Ngày 15-1-1789, quân Tây Sơn đă tập kết ở Tam Điệp. Khi cho quân ăn Tết trước ở đây, Quang Trung tuyên bố: "Nay hăy làm lễ ăn Tết Nguyên Đán trước, đợi đến sang xuân, ngày ta vào Thăng Long sẽ mở tiệc lớn. Các ngươi hăy ghi nhớ lấy lời ta xem có đúng thế không?".

Trong trận này, với chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, Quang Trung chọn thời gian và không gian hoàn toàn bất ngờ đối với quân Thanh đang kiêu căng, tự măn với những thắng lợi bước đầu và mải mê chuẩn bị ăn Tết.

Đêm 30 Tết, quân chủ lực Tây Sơn vượt sông Đáy tiêu diệt đồn tiền tiêu của địch, mở đầu cuộc tiến công. Ngày 3 Tết vây đồn Hạ Hồi, uy hiếp buộc địch đầu hàng. Ngày 5 Tết, mở trận quyết chiến ở đồn Ngọc Hồi. Bằng trận Ngọc Hồi - Đầm Mực, quân Tây Sơn đă đập tan cứ điểm then chốt nhất của địch. Sau đó đồn Khương Thượng nhanh chóng bị tiêu diệt, tướng Sầm Nghi Đống tự tử, Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy. Trưa ngày 5 Tết Kỷ Dậu, vua Quang Trung cùng tướng sĩ chiến bào nhuộm đen khói súng tiến vào Thăng Long.

Nguyễn Huệ c̣n là nhà chính trị sáng suốt. Từ mục tiêu trước mắt của phong trào nông dân là đánh đổ chế độ áp bức Trịnh - Nguyễn, Nguyễn Huệ đă vươn lên nhận thức được nhiệm vụ dân tộc là thống nhất đất nước và đánh đuổi ngoại xâm. Ông phê phán tội ác chia cắt đất nước: "Mỗi họ tự ư gây dựng bờ cơi riêng ḿnh, kỷ cương, trời đất một phen đổ nát không dựng lên được..." (Chiếu lên ngôi).

Năm 1786, Nguyễn Huệ đem quân ra bắc với khẩu hiệu "Phù Lê diệt Trịnh", cô lập triệt để quân Trịnh nên lấy được Bắc Hà một cách dễ dàng. Nguyễn Huệ nói với Nguyễn Hữu Chỉnh: "Ta đem mấy vạn quân ra đây, chỉ đánh một trận mà dẹp yên được cả thiên hạ... Ví phỏng ta muốn xưng đế, xưng vương, ǵ mà chẳng được. Sở dĩ ta nhường nhịn không ở những ngôi ấy, là hậu đăi nhà Lê đó thôi!" (Hoàng Lê nhất thống chí). Nhưng Nguyễn Huệ cũng biết trong nhân dân và nho sĩ Bắc Hà c̣n nhiều người luyến tiếc nhà Lê nên ông bằng ḷng lấy công chúa Ngọc Hân nhà Lê rồi lui về Thuận Hóa. Năm 1787, sau khi sai Vũ Văn Nhậm đem quân ra bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ vẫn để cho Lê Duy Cẩn làm giám quốc bù nh́n. Nguyễn Huệ chỉ chính thức lên ngôi hoàng đế thay nhà Lê khi Lê Chiêu Thống lộ rơ bộ mặt phản quốc, rước quân Thanh vào giày xéo đất nước.

Thành công của Nguyễn Huệ về chính trị c̣n ở việc ông được nhân tài trong nước ủng hộ. Về vơ tướng có Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng, Đặng Tiến Đông, Ngô Văn Sở... Ra Thăng Long, Nguyễn Huệ thu phục được Ngô Th́ Nhậm, Phan Huy ích, Nguyễn Thế Lịch, Đoàn Nguyễn Tuấn, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp... là những kẻ sĩ đất bắc có thực tài, biết thời thế. ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ được sự cộng tác hết ḷng của Trần Văn Kỳ, một bậc danh sĩ nổi tiếng ở đất Đàng Trong, người có công lớn giúp Nguyễn Huệ tổ chức bộ máy cai trị và giới thiệu cho Nguyễn Huệ những nhân tài trong nước.

Về mặt đối ngoại, Nguyễn Huệ rất khôn khéo trong cách ứng xử với bọn phong kiến phương bắc. Tuy đă:

[center:211d9b9c40]Đánh cho nó chích luân bất phản,
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn[/center:211d9b9c40]

Nhưng sau chiến thắng, Nguyễn Huệ vẫn chủ động cầu ḥa, bề ngoài xin thần thuộc để dập tắt ư đồ phục thù của nhà Thanh và buộc chúng phải chính thức công nhận Quang Trung làm "quốc vương", từ bỏ dă tâm thu nạp bọn lưu vong phản quốc, lấy cớ xâm lược nước ta một lần nữa.

Năm 1789, khi cuộc kháng chiến vừa kết thúc, Quang Trung đă ban bố Chiếu khuyến nông nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang. Đồng thời ra lệnh băi bỏ nhiều thứ thuế công thương nghiệp nặng nề trước đây, mở rộng việc buôn bán làm ăn cho thương nhân và thợ thủ công. Quan hệ buôn bán với nước ngoài được mở mang.

Quang Trung cũng ra sức xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc, ban bố Chiếu lập học, khuyến khích các xă mở trường học. Tiếng nói dân tộc được coi trọng. Quang Trung muốn đưa chữ Nôm lên địa vị chữ viết chính thức của quốc gia. Lập Viện Sùng chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm. Các văn kiện của Nhà nước dần dần viết bằng chữ Nôm.

Khi dân làng Văn Chương (Hà Nội) xin dựng lại bia tiến sĩ ở Văn Miếu, Quang Trung tự tay phê vào lá đơn như sau:

[center:211d9b9c40]Nay mai dựng lại nước nhà,
Bia nghè lại dựng trên ṭa muôn gian.[/center:211d9b9c40]

Nhưng tiếc thay, khi đất nước đang trên bước chuyển ḿnh đầy triển vọng th́ ngày 16-9-1792, Quang Trung đột ngột từ trần, lúc đó ông mới 39 tuổi.



Chữ kư của TieuHoaVinh

Công danh nam tử c̣n vướng nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu



 

 

 

 

            http://luyenchuong.net/forum/showthread.php?t=62935

 

USA - Liên Trường Thvn Góp $16,000 Cho Thương Phế Binh Vnch

Ban tổ chức Họp Mặt Hè Liên Trường 2008

Garden Grove (California) - Khoảng 450 Cựu học sinh, Giáo sư và Quan khách đă đến tham dư Ngày Hop Mặt Hè Liên Trừơng vào chiều Chủ nhật 14 tháng 9, 2008 tại nhà hàng Seafood Kingdom, thành phố Garden Grove.


Đây là một buổi họp mặt Hè hằng năm do Liên Trừơng Trung Học VN tổ chức nhằm thắt chặt t́nh thân hữu giửa các cưu hoc sinh thuộc các Trường Trung Hoc Viet Nam Cộng Ḥa trước năm 1975 và đồng thời cũng là dip để gây Quỹ giúp đở các Thương Phế Binh VNCH kém may mắn tại quê nhà.

Tham dư buoi Hop mat Hè năm nay chung toi nhận thấy có các Trư ờng: Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyet, Regina Pacis, Petrus-Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Trăi, Chu văn An, Quốc Học, Đồng Khánh (Huế), Nguyễn Hoàng (Quảng Tri), Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm (Cần thơ), Nguyễn Đ́nh Chiểu, Lê Ngọc Hân (Mỹ tho), Mạc Đỉnh Chi, Lư Thựng Kiệt (Hóc Môn),…Hôi đoàn bạn đến tham dự có Hội cưu Sinh Vien Sĩ Quan Thủ Đức Nam Cali, Hội Ái Hưu Kỹ sư Boeing (VAAPA), Ai hưu Hàng Không Viet Nam, Hội Đền Hùng,..

Sau phần nghi thức khai, Chào Quốc Kỳ Mỹ Việt và phút măc niêm, Lê Văn Duyệt Đặng Thi Cần, Hội trưởng Lê văn Duyệt, kiêm Chủ tich luân phiên Liên Trừơng đă lên sân khấu chào mừng quan khách. Sau đó Ông Nguyễn Mai, CHS Chu Văn An, Tổng Thư Kư Liên Trừơng đă tường trinh cac sinh hoat Liên trường trong năm vừa qua. Ông cho biết Liên Trừơng đă gửi trực tiếp về giúp đở được 247 Gia dinh TPB/Quả phu trong dip Tết Nguyên Đán (Mậu Tư) và Ngày Quân Lưc VNCH 19/6 vưà qua, mỗi gia đ́nh nhận đuơc $50 USD và trong trường hơp đặc biệt sẽ được trợ giúp $100 USD với số tiền đă gửi về là $13,004 USD. Ngoài công tác cưu trợ TPB, Liên Trừơng cũng đă gưỉ về giúp đỏ Trung Tâm Khuyêt tật Quận 4, Saigon một số tiền là $2,859 và hằng năm yểm trợ cho Giải Khuyến Hoc Việt Olympia. Tổng số tiền LT đă giúp đở cho các công tác xă hội nói trên là $16, 263 USD.

Tiếp theo đó là một chương tŕnh văn nghệ thật đăc sắc và phong phú do các cưu hoc sinh Liên Trừờng tŕnh diễn gồm có: “Nhạc Cảnh Khúc Hát Ân tinh” do ban Văn nghệ Hội CNS Gia Long Nam Cali trinh diễn, nhạc cảnh “Anh Không Chết Đâu Em” do song ca PK Đặng Tuấn và RP Ngọc Hân trinh bày, nhạc cảnh “Ngày Trở về” do các CNS Regina Pacis trinh diễn, màn thi nhac giao duyên “Hai Sắc Hoa Tigôn” với GL Kim Dung & GL Thúy An, màn dân ca “Người Ơi Người Ở đừng Về” với TV Thúy Lan, màn tŕnh diễn Áo dài Viêtnam, đơ n ca Bích Phượng, và đặc biệt ca sĩ Ngoc Ánh cũng đă đến đóng góp những ca khúc nóng bỏng và vui nhộn. Tiết mục văn nghệ ṇng côt trong chương trinh Họp măt Liên Trừơng năm nay là nhạc cảnh ” Chiều Trên Phá Tam Giang” cuả cố Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đă được TV Mai Khanh và Nguyễn Đức Cường (CHS Mạc Đỉnh Chi) đạo diễn với phần phụ diễn cuả các diễn viên Liên Trường đă làm cho mọi người hết sức xúc động.

Sau màn nhac cảnh, Lê Văn Duyệt Thúy Lan và Chu Văn An Nguyễn Mai đă lên kêu goi các Mạnh Thựng Quân đóng góp giúp đở các TPB tai quê nhà, ban tổ chức đă nhận được rất nhiều hiện kim yểm trợ của các Manh Thường Quân. Số tiền ban tổ chức nhận được gồm có: $10, 034 do các MTQ đă gửi về trước khi họp mặt, và $3,688 thu được tại chỗ. Tổng số tiền thu được cho Quỹ TPBVNCH bao gồm tiền lời cho buổi họp mặt Hè 2008 đă lên đến $16,222 Mỹ kim.

Được biết Liên Trường đă gửi về giúp đở các TPBVNCH từ năm 2002 và cho đến nay đă gửi về giúp đở 1,412 Gia đ́nh TPB và gửi tặng 26 chiếc xe lăn với tổng số tiền trên $77,000 Mỹ kim.

Chương tŕnh Họp mặt Hè được tiếp tục với phần Dạ vũ và đă kết thúc vào lúc 11:00 đêm cùng ngày.

Mọi chi tiêt về Liên Trừờng Trung Học Viet Nam Nam Cali xin liên lac về Tổng Thư Kư CVA Nguyễn Mai: (714) 889-8498 hoặc E-mail:lientruongthvn@yahoo.com.

Attached Thumbnails

 

 

 

 

 

            http://www.bentrehome.net/forums/index.php?showtopic=646

 

            http://www.skyscrapercity.com/showthread.php?t=440008

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ Quế Minh,

cut and paste from google search, (hoàn toàn không edit)

10/8/2008