T́nh cờ, trong lúc search the web (google), tôi t́m
được một số web pages nói về Lê Ngọc
Hân, Nguyễn Đ́nh Chiểu và Mỹ Tho.
Tôi chỉ cắt ráp và đưa vào html cho
người đọc khỏi phải search.
Web links có kèm theo đây, ngay trên trang tựa
của mổi bài.
Hoàn toàn không có edit, bài nguyên văn của
tác giả.
Từ Quế Minh
10/08/2008
http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/danhy/htmdocs/NguyenDinhChieu.htm
NGUYỄN
Đ̀NH CHIỂU (1822 – 1888)
Tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng
Phủ, sau khi bị mù lấy hiệu là Hối Trai. Người
thôn Tân Thái, huyện B́nh Dương, phủ Tân B́nh, tỉnh
Gia Định. Sinh năm 1822, mất năm 1888 tại làng
An Đức, tỉnh Bến Tre. Năm Thiệu Trị thứ
3 (1843) ông đậu Tú tài trường Hương thí
Gia Định và ra Huế thi cử nhân cùng thi Hội,
nhưng được tin mẹ mất phải bỏ thi
về chịu tang. Dọc đường, do thương
khóc quá nên mù cả hai mắt. Sau đó ông dạy học và
làm thuốc, v́ thế người dân gọi là cụ Đồ
Chiểu. Ông soạn ra quyển ‘Ngư Tiều Vấn
Đáp Y Thuật’.
Nội dung lên án những việc làm bất chính hại
đến tính mạng nhân dân:
+ Cống mê tín dị đoan, chữa bệnh bằng
phù phép huyền bí.
+ Chống lừa bịp người bệnh,
gian dối trong việc bán thuốc.
+ Chống trị bệnh theo bá đạo, dùng
thuốc hoặc châm cứu bừa băi do thiếu học tập
y lí. Ông cũng đề cao việc cứu chữa cho
người nghèo khổ, chu cấp thuốc và tận t́nh
giúp đỡ họ. Khuyên các thầy thầy thuốc khiêm
tốn học hỏi, không tự phụ chủ quan, không
giáo điều với sách vở.
Mở đầu có hai bài luận bằng chữ
Hán nêu lên tầm quan trọng của nghề y và những
nét lớn về y lí trị liệu, cơ sở biện
chứng và phương châm dùng thuốc. Bài ‘Trích Yếu’
bàn về âm dương,nêu lên quy luật biến hóa của
âm dương, thủy hỏa, khí huyết trong sinh lư và bệnh
lư.
Phần Đạo Dẫn và Nhập Môn nói chuyện
với Ngư tiều bằng ca Nôm lục bát, có phụ
thêm các bài thơ ca bằng chữ Hán, gồm các mục lư
luận cơ bản về Ngũ hành, Tạng phủ, Kinh
lạc, Vận khí, Chản đoán, Biện chứng, Dược
học, Nhi khoa, Phụ khoa, Châm cứu.
Phần cuối có một bài Luận Về Tiêu Bản
và một bài Tạp Trị Phú bàn chung về các cách trị
bệnh…
Ngoài ra, sách cũng c̣n đề cập đến
4 mục:
1- Lịch sử Đông y với những sách thuốc
cần đọc.
2- Âm Chất: nói về đạo đức của
người thầy thuốc và việc ăn ở nhân
đức, từ thiện (nhân thuật, nhan đạo).
3- Tra Án: răn các thầy thuốc chữa bậy,
vụ lợi và chống mê tín dị đoan.
4- Thiện Chân: nêu lên phép dưỡng sinh và vệ
sinh pḥng bệnh.
http://www.vntruyen.com/tm.asp?m=3927
Bắc Cung Hoàng Hậu
Lê Ngọc Hân
Ngày xưa các vua chúa thường có rất nhiều vợ.
Không rơ Quang Trung có bao nhiêu vợ khi đă làm chủ từ Bắc
hà đến cơi Nam. Theo tài liệu để lại, có thể
nói đến hai Hoàng hậu của vua: Chính cung Hoàng hậu
và Bắc cung Hoàng hậu. Bà Chính cung Hoàng hậu họ Phạm,
người phủ Qui Nhơn, là chị cùng mẹ khác cha với
H́nh bộ thượng thư Bùi Văn Nhất và Thái
sư Bùi Đắc Tuyên. Khi Quang Trung đăng quang năm
Kỷ Dậu (1789) th́ bà cũng được lập làm
Chính cung Hoàng hậu. bà sinh được 3 con trai, 2 con gái:
Nguyễn Quang Toản là con đầu, được làm
Thái tử, con thứ là Nguyễn Quang Thùy được
phong làm Khanh công lĩnh bắc thành Tiết chế thủy
bộ chủ quân. Con trai thứ ba là Nguyễn Quang Bàn
được phong làm Tuyên công lĩnh Thanh Hoa đốc trấn
tổng lư dân sự.
Đại Nam thực lục, biên niên sử của triều
Nguyễn, c̣n chép những người con khác của Nguyễn
Huệ: tháng 5 năm Tân Hợi (1801) khi kinh đô Phú Xuân thất
thủ cho đến khi Nguyễn ánh lấy đuợc cả
Bắc Hà, quân Nguyễn ánh c̣n bắt được các em của
Quang Toản có tên là: Quang Cương, Quang Tự, Quang
Điện, Thất, Quang Duy...
Song, trong số các bà vợ, người được
Nguyễn Huệ yêu qúy nhất là Bắc cung Hoàng hậu Lê
Ngọc Hân. Nàng được phong làm Bắc cung Hoàng hậu
vào dịp Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, khi mới
18 tuổi, hai năm sau đám cưới tưng bừng
được cử hành tại Thăng Long. Lúc đầu
chỉ là sự sắp đặt theo mưu đồ
chính trị, theo lối"Mỹ nhân kế"mà Nguyễn
Hữu Chỉnh là người bày đặt, nhưng về
sau, cuộc t́nh của họ lại rất tốt đẹp,
trai anh hùng gặp gái thuyền quyên.
Với thế mạnh như chẻ tre, năm Bính Ngọ
(1786), Long Nhương tướng quân Tiết chế Nguyễn
Huệ xuất hiện ở Thăng Long trong hào quang chiến
thắng. Quân Trịnh thua chạy tan tác, vua Lê th́ ở tuổi
"cổ lai hy" vốn an phận với cương vị
bù nh́n mặc cho các chúa Trịnh tác oai tác phúc. Ông tướng
trẻ mới 34 tuổi này xuất hiện làm cho cả
kinh thành xao động. Nguyễn Huệ muốn ǵ? Lấy
ngai vàng của vua Lê đối với Huệ không phải
là khó! Song Huệ đă làm đúng như lời tuyên bố
ban đầu: diệt Trịnh pḥ Lê. Vua Lê nghĩ đến
việc ban cho Huệ chức tước vào bậc cao nhất
trong triều: Nguyên súy Uy quốc công. Vậy th́ c̣n ǵ để
vừa ḷng viên tướng chiến thắng nếu không phải
là ngọc ngà châu báu hay là một bóng giai nhân. Đón biết
suy nghĩ của chủ tướng, Nguyễn Hữu Chỉnh
đă giả ư vua Lê "muốn gả một nàng công chúa
cho chủ súy Tây Sơn để lấy chỗ dựa lúc
tuổi già", Nguyễn Huệ với giọng hăng
hái đầy tự nhiên nói:
- Xưa nay những kẻ chinh phu xa nhà, t́nh khuê pḥng rất
cần thiết. Hoàng thượng cũng xét đến chỗ
ấy kia à? ừ! em vua nước Tây làm rể vua nước
Nam, "môn đương hộ đối" như thế,
tưởng cũng không mấy người có được.
Biết Nguyễn Huệ đă bằng ḷng, Nguyễn Hữu
Chỉnh liền vào cung tâu hết với vua Lê. Lúc đó nhà
vua đă 70 tuổi, vẫn c̣n 5,6 người con gái chưa
chồng. Trong số các nàng công chúa, chỉ có nàng Ngọc
Hân đẹp và nết na hơn cả. Vua Lê rất
cưng chiều nàng và cho học hành đủ cả cầm
kỳ thi họa. Nhà vua vẫn thường tự nhủ:
- Con bé này ngày sau nên gả làm Vương phi, không nên gả
cho hạng pḥ mă tầm thường.
Nghe Chỉnh nói đến việc dùng "kế mỹ
nhân", vua Lê đă nghĩ ngay đến cô con gái cưng,
nhưng vẫn cẩn thận bảo với Nguyễn Hữu
Chỉnh:
- Con gái chưa chồng trẫm c̣n nhiều, nhưng chỉ
có ḿnh Ngọc Hân là có chút nhan sắc. Tuy vậy, thói thường
yêu con vẫn thiên lệch, chưa biết ở mắt
người ngoài th́ ra sao. Ngươi hăy ở đây, để
trẫm cho đ̣i cả ra mà coi qua, rồi tùy ngươi lựa
xem người nào xứng đáng th́ giúp cho thành việc
đi!
Khi đă nh́n thấy các công chúa, Chỉnh cũng nhất trí
với nhà vua, chọn nàng Ngọc Hân gả cho Nguyễn Huệ
với niềm tin rằng Huệ khó có thể cầm ḷng
được khi đă gặp nàng.
Khi nghe Chỉnh nói về nàng công chúa Ngọc Hân tuổi vừa
đôi tám, xinh đẹp tuyệt trần, xin cho được
nương bóng nhà sau hầu hạ lược khăn cho
người dũng tướng, th́ Nguyễn Huệ rất
vui và thật thà nói:
- V́ dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà
về; bọn trẻ nó cười cho th́ sao. Tuy nhiên, ta chỉ
mới quen gái Nam Hà, chưa biết gái Bắc hà, nay cũng
nên thử một chuyến xem có tốt không.
Rồi Huệ lại nói với một giọng đầy
nghiêm túc và cảm động:
- Tôi xin kính lạy dưới bệ Hoàng thượng vạn
tuế! Ở khe núi hẻo lánh xa xôi tới đây, há dám
đường đột như vậy? Bây giờ may sao
được bám vào cành vàng lá ngọc, thật là mối
nhân duyên kỳ ngộ ngàn năm mới có. Kẻ ở khe
núi này xiết bao mừng rỡ.
Thế rồi đám cưới của chủ súy quân Tây
Sơn với nàng công chúa đất Bắc được
tổ chức rất trọng thể tại Thăng Long
thành.
Công chúa Ngọc Hân lúc mới về với Nguyễn Huệ
c̣n rất e thẹn sau rồi cũng quen. Hôm vào làm lễ yết
các vị tiên đế ở thái miếu, Nguyễn Huệ
và công chúa Ngọc Hân gióng kiệu cùng đi, lễ xong lại
gióng kiệu cùng về. Nguyễn Huệ lấy làm hănh diện
mà hỏi công chúa:
- Con trai con gái nhà vua, đă có mấy người được
vẻ vang như nàng?
Công chúa đáp:
- Nhà vua ít lộc, các con trai con gái ai cũng thanh bạch
nghèo khó, chỉ riêng thiếp có duyên, lấy được
lệnh công, ví như hạt mưa, bụi ngọc bay ở
giữa trời được sa vào chốn lâu đài
như thế này, là sự may mắn của thiếp mà
thôi.
Nguyễn Huệ nghe nàng nói, rất hài ḷng và càng thêm yêu quí
nàng hơn.
Thế rồi ngày Nguyễn Huệ phải về Nam đă đến, nàng công chúa lần đầu tiên đi xa phải
từ biệt người thân và hoàng gia cùng kinh thành
Thăng Long, theo chồng vào Phú Xuân. Bà sinh được
hai người con, một trai là Nguyễn Văn Đức
và mọt gái là Nguyễn Thị Ngọc. Vua Quang Trung yêu quí
Ngọc Hân không chỉ v́ sắc đẹp, nết na mà c̣n
trọng nàng ở tài văn chương nhạc họa và
cả những kiến thức về thời cuộc quốc
gia. T́nh yêu của họ ngày càng nồng thắm. Người
dân kinh thành Thăng Long cứ mỗi mùa xuân đến ngắm
hoa đào đỏ thắm lại nhớ đến cành
đào xuân Kỷ Dậu, vua Quang Trung áo bào c̣n vương
mùi thuốc súng vội cho ngựa trạm đem cành đào
Nhật Tân vào Phú Xuân tặng người vợ yêu báo tin
chiến thắng.
Họ chỉ sống hạnh phúc được trọn 6
năm, vua băng hà lúc tuổi đời c̣n nhiều hứa
hẹn... Ngọc Hân đau xé ḷng khóc chồng bằng bài
"Ai tự văn"
... Buồn thay nhẽ! Sương rơi gió lọt
Cảnh đ́u hiu thánh thót châu sa!
Tưởng lời di chúc thiết tha,
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê.
Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa nở!
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong?
Quyết liều mang vẹn chữ ṭng
Trên rường nào ngại giữa ḍng nào e!
Con trứng nước thương v́ đôi chút
Chữ t́nh thân chưa thoát được đi
Vậy nên nấn ná đợi khi...
H́nh th́ tuy ở phách th́ đă theo...
Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, họ ngọai chuyên
quyền, nội bộ triều Tây Sơn lục đục
rồi mất. Ngọc Hân và hai con phải đổi tính
danh vào sống lẫn với dân chúng ở Quảng Nam. Không lâu sau, bị phát hiện và bị bắt, Ngọc Hân uống
thuốc độc quyên sinh, hai con bị thắt cổ chết,
đó là năm Kỷ Mùi (1799) khi bà mới 29 tuổi.
Nghe tin thê thảm ấy, Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền,
mẹ đẻ ra Ngọc Hân, lúc đó sống ở quê
Phù Ninh (tục gọi là làng nành, tỉnh Bắc Ninh) liền
thuê người vào Quảng Nam lấy trộm được
xác con và hai cháu ngoại đem về mai táng tại làng rồi
cho dựng miếu thờ. Gần 50 năm sau, dưới
thời Thiệu Trị nhà Nguyễn, miếu bị đổ
nát. Một ông tú người làng Nành nhớ công lao của
Chiêu Nghi họ Nguyễn đối với dân làng, đă
quyên tiền tu sửa ngôi miếu. Không ngờ có tên phó tổng
cùng làng vốn thù riêng với ông tú, đă cất công vào Huế
tâu vua việc thờ "ngụy Huệ". Triều
đ́nh Huế liền hạ lệnh triệt phá ngôi miếu,
quật ba ngôi mộ, vứt hài cốt xuống sông. Ông tú
kia bị trọng tội. Tổng đốc Bắc Ninh
Nguyễn Đăng Giai cũng bị giáng chức.
SƯU TẦM
http://saigon.nguoihanoi.net/forum/showthread.php?t=3805
|
Nằm mộng gặp hoa bích đào,
nhớ công chúa Ngọc Hân…
Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng có
lần phát biểu, lịch sử của Việt Nam thư ờng pha trộn truyền thuyết và hiện thực.
Mà cành hoa đào vua Quang Trung tặng Ngọc Hân công chúa là một
ví dụ cụ thể.
V́ theo khảo cứu của giáo sư, chi tiết cành hoa
đào bích xuân Kỷ Dậu 1789 là chuyện không hề xảy
ra. Thế nhưng, người dân Việt hầu như
ai cũng biết và tin câu chuyện đẹp đẽ
này có thật và xem đó như là biểu tượng của
một t́nh yêu măi sáng trong.
I. Vắn tắt tiểu sử Lê Ngọc Hân (1770 -
1799)
Lê Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông và bà Chiêu Nghi Nguyễn
Thị Huyền. Bà có nhan sắc, thông minh, lại giỏi
thơ văn.
Năm 1786, anh hùng "áo vải cờ đào" Nguyễn
Huệ ra Bắc với chiêu bài "phù Lê diệt Trịnh".
Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ
và theo ông về Thuận Hóa.
Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế trước
khi ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh,
lấy niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu
Cung Hoàng Hậu.
Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ
lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng Hậu.
Năm 1792, Quang Trung Hoàng Đế đột ngột
băng hà…
II. Về cái chết của Lê Ngọc Hân
Có nhiều giả thuyết về cái chết của Bắc
Cung Hoàng Hậu,
song thuyết đáng tin cậy nhất là :
1.Trích dẫn bài viết của PGS Chu Quang Trứ :
Lê Ngọc Hân đưa con ra khỏi cung điện Phú
Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ở Huế)
cạnh điện Đan Dương để thờ
chồng nuôi con.
(Lăng mộ Quang Trung, người đương thời
gọi là Đan Lăng hay Đan Dương lăng. Tháng
11 Tân Dậu (1801), 6 tháng sau khi chiếm được Phú
Xuân, Gia Long đă cho phá hủy lăng mộ Quang Trung, san
thành b́nh địa. Từ đó đến nay đă
hơn 200 năm, Đan Lăng bị mất dấu. Vị
trí Lăng này ở đâu vẫn là điều bí ẩn
đối với biết bao thế hệ các nhà nghiên cứu.
Và điện Đan Dương có thể ở kề cận
nơi chôn cất vua Quang Trung- người soạn ghi thêm
)
Bà gượng sống đến ngày mồng 8 tháng 11
năm Kỷ Mùi (4-12-1799) th́ mất, lúc ấy mới 29 tuổi.
( v́ lư do ǵ không thấy nêu cụ thể- người soạn
ghi thêm)
Khi đó Phan Huy ích đang là một trọng thần của
Tây Sơn, đă soạn giúp năm bài văn tế. Cả
năm bài này có chép trong sách Dụ Am văn tập.
Tiếp theo, triều đ́nh Cảnh Thịnh lục
đục và suy yếu, ngày càng bị tập đoàn Nguyễn
ánh đe dọa. Hai con bà phải đổi sang họ Trần,
nhưng rồi với sự sụp đổ của triều
Tây Sơn, theo tộc phả họ Nguyễn Đính, ngày
18 tháng 11 năm Tân Dậu (23-12-1801) hoàng tử Văn
Đức mất khi mới 10 tuổi, rồi ngày 17 tháng
4 năm Nhâm Tuất (18-5-1802) công chúa Ngọc Bảo
cũng mất khi mới 12 tuổi.
Không rơ có phải như truyền thuyết là bị nhà
Nguyễn giết hại trong khi trốn tránh? Nhưng
cũng có thể chết bệnh vào những thời
điểm khác nhau, v́ không có tên trong danh sách vua tôi nhà Tây
Sơn bị Gia Long hành h́nh !
Hơn nữa bộ sách chính sử của nhà Nguyễn
Đại Nam Thực lục nhân năm 1842 phá hủy
đền thờ Ngọc Hân ở Phù Ninh có ghi: "Nguyên
người xă ấy là Nguyễn Thị Huyền làm
cung nhân của vua Lê Hiển Tông, có người con gái là Lê
Ngọc Hân, sau gả cho ngụy (Nguyễn) Huệ, sinh
được 1 trai và 1 gái, Ngọc Hân chết, con trai,
con gái cũng chết non cả".
Phần "Biệt lục" của tộc phả
Nguyễn Đính có ghi thêm:
Bà Nguyễn Thị Huyền ( mẹ của Ngọc Hân, vợ
vua Lê Hiển Tông) thương con gái và các cháu ngoại
đều chết yểu nơi xa.
Nên vào năm 1804, bà thuê người vào Phú Xuân lấy hài cốt
của ba mẹ con rồi cải táng vào giờ Ngọ
ngày mồng 9 (16-7-1804).Nơi đó nay là Băi Cây Đại
hay Băi Đầu Voi ở đầu làng Nành, xă Phù Ninh (
nay là xă Ninh Hiệp - Gia Lâm, Hà Nội)
Sự việc này, bộ Đại Nam thực lục ghi
tiếp ở năm 1842: "Khoảng năm đầu
Gia Long, ngụy đô đốc tên là Hài ngầm đem
hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm
ở địa phận xă Phù Ninh. Thị Huyền ngầm
xây mộ, dựng đền, khắc bia giả, đổi
lại họ tên để làm mất dấu tích".
Vẫn theo tộc phả họ Nguyễn Đính và kết
hợp truyền thuyết địa phương, th́ sau
này có người trong làng tố giác việc làm trên nên vua
Thiệu Trị đă cho phá hủy đền thờ
ở dinh Thiết Lâm, quật mộ ba mẹ con Ngọc
Hân, đổ hài cốt xuống sông - nơi này sau dân lập
đền ghềnh thờ bà; chánh tổng bị lột
da, tri phủ bị cách chức.
Bộ sử Đại nam thực lục năm 1842
cũng xác nhận: "Tới đây, việc ấy
phát giác, vua sai hủy đền thờ, đào bỏ hài
cốt kẻ ngụy".
Từ năm 1842 dinh Thiết Lâm bị phá, nền dinh bỏ
hoang thành đất công của làng, nhưng dân vẫn gọi
là "Vườn Dinh" và dựng lên đây Một
"Miếu cô hồn" kín đáo thờ Ngọc Hân.
Măi gần trăm năm sau, đến năm 1937 họ
Nguyễn Đính đổi đất với làng lấy
lại một phần nền dinh Thiết Lâm và lập lại
đền thờ bà Nguyễn Thị Huyền cùng với
Ngọc Hân. Đồng thời, tại băi cây Đại,
cùng với việc sửa lại mộ bà Nguyễn Thị
Huyền, dân làng cũng đắp nấm mộ tượng
trưng (mộ gió) của mẹ con Ngọc Hân,
tương truyền là chính chỗ mà năm 1842 bị Thiệu
Trị quật phá…
2. C̣n theo Ngô Tất Tố trong "Lược sử
công chúa Ngọc Hân" (Thi văn b́nh chú, Hà Nội 1952)
th́ có điểm khác là:
Sau khi nhà Tây Sơn thất bại, Ngọc Hân và các con
đều đổi tên họ lẻn vào một làng thuộc
tỉnh Quảng Nam. Nhưng chẳng bao lâu th́ bị phát
giác. Ngọc Hân phải uống thuốc độc tự
tử, c̣n hai con đều bị thắt cổ chết.
Đồng ư kiến này , trên web dactrung.net, không thấy
ghi tên người soạn, c̣n mô tả thêm :
Khi Nguyễn Quang Toản, con ḍng lớn lên nối ngôi, họ
ngọai chuyên quyền, nội bộ triều Tây Sơn lục
đục rồi mất. Ngọc Hân và hai con phải
đổi tính danh vào sống lẫn với dân chúng ở
Quảng Nam. Không lâu sau, bị phát hiện và bị bắt.Ngọc
Hân uống thuốc độc quyên sinh, hai con bị thắt
cổ chết, đó là năm Kỷ Mùi (1799) khi bà mới
29 tuổi.
Nghe tin thê thảm ấy, Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền,
mẹ đẻ ra Ngọc Hân, lúc đó sống ở quê
Phù Ninh (tục gọi là làng nành, tỉnh Bắc Ninh) liền
thuê người vào Quảng Nam lấy trộm được
xác con và hai cháu ngoại đem về mai táng tại làng rồi
cho dựng miếu thờ.
Gần 50 năm sau, dưới thời Thiệu Trị,
miếu bị đổ nát. Một ông tú người làng
Nành nhớ công lao của Chiêu Nghi họ Nguyễn đối
với dân làng, đă quyên tiền tu sửa ngôi miếu.
Không ngờ có tên phó tổng cùng làng vốn thù riêng với
ông tú, đă cất công vào Huế tâu vua việc thờ
"bọn ngụy Huệ". Triều đ́nh Huế
liền hạ lệnh triệt phá ngôi miếu, quật ba
ngôi mộ, vứt hài cốt xuống sông. Ông tú kia bị
trọng tội. Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn
Đăng Giai cũng bị giáng chức
3. Thêm một ư kiến khác:
Theo bài “Triều Nguyễn với Lê Ngọc Hân”
đăng trên tạp chí Xưa Và Nay, Đỗ Đức
Hùng viết :
Trước đây trong một số bài viết của
ḿnh, tôi cũng theo ư kiến cho rằng công chúa Ngọc Hân
đă mất từ trước khi triều Tây Sơn bị
sụp đổ hoàn toàn.
Song khi đọc kỹ lại "Quốc sử di
biên", tập thượng, bản dịch Sài G̣n 1973,
tr.136., tôi thấy tác giả đời Nguyễn là Phan
Thúc Trực (1808 - 1852), chép rơ ràng như sau:
" Nguyên năm Bính Ngọ (1786) niên hiệu Lê Cảnh
Hưng, vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ.
Đến khi nhà Tây Sơn mất, công chúa lại về ở
tại mẫu quán là làng Phù Ninh. Tại đây, tháng 5
năm Giáp Tư (1804) công chúa nhà cựu Lê là Ngọc Hân tạ
thế.Kẻ hàng thần hiện nhậm chức quan tại
huyện Đông Ngạn xin làm tang lễ cho cố công
chúa, nhà vua chấp thuận, dân làng Phù Ninh làm từ
đường thờ cố công chúa"
Với tư cách là bộ sử tư nhân, ghi chép và bổ
sung những sự kiện mà quốc sử c̣n bỏ sót
hoặc đề cập đến chưa chính xác,
được biên soạn vào khoảng đầu thời
vua Tự Đức (khoảng 1851 - 1852), quốc sử
di biên đă cung cấp những thông tin quan trọng:
- Có thể là hai người con của bà Ngọc Hân với
Nguyễn Huệ đă bị giết hại sau khi nhà Tây
Sơn bị sụp đổ, nhưng riêng Lê Ngọc Hân
vẫn c̣n sống mà trở về quê mẹ là làng Phù Ninh.
- Bà Lê Ngọc Hân đă qua đời tại quê nhà vào tháng
5 năm Giáp Tư (1804) và đă được vua Gia Long nhà
Nguyễn cho phép làm tang lễ và nhân dân làng Phù Ninh đă xây
dựng từ đường để thờ bà. Điều
này có thể hiểu được v́ chính vua Gia Long
đă lấy em gái của Lê Ngọc Hân, nên ông vua này không
thể không nể t́nh …
Cùng quan điểm này là tác giả Nhất Thanh trong
bài viết “Công chúa Lê Ngọc Hân...”, Văn sử
địa, số 21, Sài G̣n, 1971.
Tác giả cho rằng khi triều Tây Sơn sụp đổ,
Lê Ngọc Hân có bị bắt cùng với hai con hoặc ở
Huế hoặc ở nơi khác. Vua Gia Long đă sai giết
hai con bà một cách kín đáo, c̣n riêng Lê Ngọc Hân th́ cho về
quê mẹ v́ nghĩ t́nh vừa lấy em bà là Lê thị Ngọc
B́nh làm vợ…
III.Ư của người soạn để thay lời kết:
Người soạn nghiêng về ư kiến: Ngọc Hân mất
ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799), lúc ấy mới
29 tuổi. C̣n lư do chết trẻ của cả 3 mẹ
con tuy ḷng tôi thường ngờ, nhưng đành phải
chờ ư kiến của các nhà sử học chứ không
dám nói bừa.
C̣n việc cải táng rồi bị phá bỏ mồ mả
của mẹ con bà tôi tin vào Đại Nam thực lục, là bộ sách chính sử của nhà Nguyễn.
Ngẫm cuộc đời Lê Ngọc Hân tuy ngắn ngủi,
nhưng bà thực sự là một nhân vật lịch sử,
một nữ sĩ tài hoa, một người vợ tuyệt
vời thật đáng tiêu biểu cho phẩm hạnh của
người phụ nữ Việt Nam
…Ấy vậy mà, gần 50 năm sau, không ngờ có kẻ
đă kể trên, chắc chắn nhân cách chẳng ra ǵ,
đă cất công vào tận Huế tố cáo việc thờ
"bọn ngụy Huệ".Khiến vua Thiệu Trị
hạ lệnh triệt phá ngôi miếu, khai quật cả
ba ngôi mộ, vứt hài cốt xuống sông…
Vậy là lăng mộ cùng thân xác của người “anh
hùng áo vải” cũng chẳng c̣n; chút hài cốt của
người vợ trẻ cùng 2 con thơ dại của
người hùng anh ấy cũng chẳng c̣n ; c̣n chăng
chỉ là ba nấm mộ gió nằm lặng lẽ, hiu quạnh…
được người dân thủa xưa kia yêu mến
lén lút đắp lên & thờ cúng như những"cô
hồn"!...
Thật ḷng mấy câu thơ trong bài “Ai Tư Văn” mà Ngọc
Hân dành để tế Nguyễn Huệ
Cuộc tụ, tán, bi, hoan kíp bấy,
Kể sum vầy đă mấy năm nay?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đă vậy, thân này nương đâu?...
Tôi tin người góa bụa trẻ này không chỉ khóc cho
chồng, cho sự rạn nứt chóng vánh của một
triều đại, mà c̣n để khóc cả cho thân phận
ḿnh !...
Bùi
Thụy Đào Nguyên, tập hợp.
http://img123.imageshack.us/img123/4175/ba...sonbdnhodh2.jpg
[
Ảnh : Bảo Tàng Quang Trung tại Tây Sơn

|
|
thuydaonguyen
|
|
Xem hồ sơ
|
|
T́m bài gởi bởi thuydaonguyen
|
|
#2
09-09-2007, 12:36 AM
|
|
|
|

Phần soạn thêm :
1.Nhân đây xin được đính chính :
Số đâu có số lạ đời,
Con vua mà lại hai đời chồng vua.
Đó là hai câu ca dao vẫn c̣n lưu truyền trong dân gian
tại vùng đất cố đô Huế cho đến
những năm đầu thế kỷ XX. Nó phản ánh
một thực tế lịch sử. Song cái nguy hại là
nhiều người đă hiểu lầm câu ca dao kia ám
chỉ vào công chúa Lê Ngọc Hân. Thậm chí, một tác giả
đă viết cả một bài báo.
Đó là một sự lầm lẫn.Thực tế, Ngọc
Hân chưa từng bao giờ lấy vua Gia Long mà đó
chính em gái của bà tên Lê Thị Ngọc B́nh, người
vợ trẻ đẹp của vua nhà Tây sơn Nguyễn
Quang Toản
2.Một tư liệu có liên quan :
Trong bức thơ đề ngày 16 tháng 7 năm 1801 của
Barizy, một sĩ quan người Pháp, tháp tùng cùng Nguyễn
Ánh vào chiếm Phú xuân đă ghi lại như sau:
"Nhà vua (Nguyễn Ánh) bảo tôi đi xem mặt các
cô công chúa của kẻ tiếm vị (Quang Trung). Tôi đến
đó họ ở trong một pḥng hơi tối, không phải
là một pḥng sang trọng, có tất cả năm công
chúa: một cô 16 tuổi theo tôi là một cô gái đẹp,
một em bé 12 tuổi là con gái của bà Công chúa Bắc kỳ
(Ngọc Hân) em này cũng coi được, c̣n ba cô nữa
cũng từ 16 đến 18 tuổi th́ nước da
hơi nâu nhưng diện mạo cũng dễ
thương.
Ngoài ra c̣n có 3 con trai, có một em độ 16 tuổi
cũng da nâu nhưng nét mặt th́ tầm thường,
c̣n em trai kia độ 12 tuổi là con của bà công chúa Bắc
kỳ th́ diện mạo rất đáng yêu và có những cử
chỉ rất dễ thương".
Trong thư của Barizy, ta không thấy ghi sự có mặt
Hoàng hậu Ngọc Hân mà ông ta đă gọi là “Công chúa Bắc
kỳ”.
(Ư người soạn : Suy ra việc bà mất vào
năm1799, phù hợp nhiều tài liệu;chỉ có điều
theo mấy lời thư mà tôi cố ư tô đậm, th́
con ai đă chết non theo những tài liệu trích dẫn
bên trên ?...)
3. Nỗi buồn của người soạn từ 2
bài báo :
a. Tiếng kêu cứu từ phần mộ Ngọc Hân
công chúa:
http://www1.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2006/5.../5/8/147834.tno,
ngày 08/05/2006 ( trích ) :
Ông Nguyễn Đ́nh Kiu là cháu đời thứ 5 của
Công chúa Ngọc Hân. Hiện nay, ông hơn 70 tuổi, là
người kiên tŕ làm đơn kiến nghị gửi
đến các cấp xin tôn tạo phần mộ và đền
thờ Công chúa vắn số này trong suốt 26 năm qua…
Đến năm 1990, được chỉ đạo
trực tiếp của Bí thư Thành ủy Hà Nội lúc bấy
giờ là ông Phạm Thế Duyệt , một đoàn cán bộ
nghiên cứu khoa học của Sở Văn hóa - Thông tin
Hà Nội đă đến điều tra xem xét và kết
luận:
"Việc hài cốt của danh nhân Lê Ngọc Hân và
hai con chôn tại miền Trung được mẹ là
Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, t́m cách đem về
chôn tại băi Cây Đại, làng Phù Ninh, nay là xă Ninh Hiệp
và được cúng giỗ tại dinh Thiết Lâm của
bà Nguyễn Thị Huyền là sự kiện có thật.
Với ư nghĩa nhiều mặt, Lê Ngọc Hân đă có
thời gian gắn bó với quê ngoại khi sống
cũng như khi chết. Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội
tán thành với ư kiến của Hội đồng khoa học
là nên tạo dựng một h́nh thức xứng đáng tại
xă Ninh Hiệp ở khu mộ băi Cây Đại, hoặc ở
tại một điểm trang trọng trên nền đất
khu dinh Thiết Lâm cũ".
Vậy mà cho đến nay,( tính thời điểm bài báo
ra ngày 8/5/2006), đă nhiều năm trôi qua kể từ
ngày có sự chỉ đạo đó( năm 1990), việc
xây dựng khu tưởng niệm Công chúa Ngọc Hân, vợ
của người anh hùng, vẫn chưa được
bắt tay thực hiện…
…Và tượng bà Nguyễn Thị Huyền trước
đây được để trong nhà thờ th́ đă bị
ai đó gói vào bao tải cũ đặt ở nhà kho trạm
xá đă bỏ hoang, mạng nhện bùn đất đầy
đầu, đầy mặt tượng.Tới nay
tượng được "đối xử" khá
hơn một tí, có vải che mặt, trùm đầu, song
vẫn bị đưa vào tạm trú ở nhà kho của
"nhà văn hóa" xă.
C̣n phần mộ của Ngọc Hân công chúa hiện nay chỉ
c̣n là một cái nấm thấp lè tè khoảng 20cm, bề
ngang chỉ độ 50cm, dài chừng 2 thước….
Theo Hồng Hạc
b. Mộ tưởng niệm công chúa Ngọc Hân (Hà Nội):
Nguy cơ bị biến mất.
( trích ):
…khu mộ mộ bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền( mẹ
của Ngọc Hân, vợ vua Lê Hiển Tông ) cùng mộ Ngọc
Hân nằm lọt thỏm giữa những căn nhà hai ba
tầng…
Xung quanh khuôn viên được xây bằng hàng ngạch tạm
bợ và đầy những vật liệu xây dựng ngổn
ngang. Chỉ tính khuôn đất dành riêng cho hai ngôi mộ
này th́ nhiều lắm cũng chỉ 10m2
Riêng ngôi mộ “tưởng niệm” Ngọc Hân th́ quá thô
sơ. không bia, không tên, tuổi Chiều dài chỉ khoảng
2m, rộng 60cm và cao 20cm..
Báo Pháp luật & đời sống, số ra
ngàyThứ Năm, 21/06/2007
4.Vài lời với những tác giả có tư liệu
mà tôi đă sử dụng:
V́ nỗi riêng, người soạn đành phải dang dở
việc học; may mà có net cùng với mớ sách vở nhờ
dành dụm có được, nên dù c̣n non kém nhiều mặt,
tôi vẫn cố gắng soạn một số bài cốt
chỉ để chia sẻ, để học hỏi, để
đỡ nhớ chữ nghĩa...chứ thật tâm không
hề v́ danh, v́ lợi.
Với ư nghĩa ấy cùng tấm ḷng muốn “ôn cố
tri tân”,“ dân ta phải biết sử ta”; tôi mong những
tác giả có tư liệu mà tôi đă trích dẫn trong nhiều
bài viết đă đăng tải trên net, xin vui ḷng
lượng thứ v́ lỗi “sử dụng không xin phép
trước”.
Chào trân trọng. BTĐN
http://img210.imageshack.us/img210/7328/an...angtrungpi4.jpg
Ảnh được xem như là ảnh vua Quang Trung
http://img253.imageshack.us/img253/9650/mo...hanbnphiex5.jpg
Ảnh : Mộ Nguyễn Thị Huyền,có miếu thờ
“Mộ gió” Lê Ngọc Hân nằm phía bên phải ảnh
|
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=296320
|
Nằm
mộng gặp hoa bích đào,
Nhớ công
chúa Ngọc Hân…
Một bạn
thơ cho biết, ngày Quang Trung vào Thăng Long
có giao cho đô đốc Tuyết mang gấp một
cành đào vàoPhú Xuânđể tặng cho công chúa Ngọc
Hân.C̣n Giáo sư sử học Trần
Quốc Vượng có lần phát biểu, lịch sử
của Việt Nam thường pha trộn truyền thuyết
và hiện thực. Mà cành hoa đào vua Quang Trung tặng
Ngọc Hân là một ví dụ cụ thể.
V́ theo khảo cứu
của giáo sư, chi tiết cành hoa đào bích xuân Kỷ
Dậu 1789 là chuyện không hề xảy ra. Thế
nhưng trước 2 ư kiến trái ngược này ,
người dân Việt hầu như ai cũng tin câu
chuyện đẹp đẽ kia có thật và xem đó
như là biểu tượng của một t́nh yêu măi
sáng trong.
I.Vắn tắt
tiểu sử Lê Ngọc Hân (1770 - 1799)
“Người
quư giá thế này, thực không hổ thẹn là em dâu của
ta”( Nguyễn Nhạc)
*
Lê Ngọc Hân sinh
ngày 27 tháng 4 năm Canh Dần (tức 25-5-1770) là con vua Lê
Hiển Tông và bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền. Bà có
nhan sắc, thông minh, lại giỏi thơ văn.
Năm 1786, anh hùng
"áo vải cờ đào" Nguyễn Huệ ra
Bắc với chiêu bài "phù Lê diệt Trịnh",
Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ
và theo ông về Thuận Hóa.
Năm 1788, Nguyễn
Huệ lên ngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu Quang
Trung, trước khi ra Bắc lần thứ ba để
diệt quân Thanh, đă sắc phong Ngọc Hân làm Hữu
cung hoàng hậu.
Năm 1789, sau khi
đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại
phong bà làm Bắc cung hoàng hậu.
Năm 1792, Quang
Trung Hoàng Đế đột ngột băng hà…
II. Về cái chết
của Lê Ngọc Hân:
Có nhiều giả
thuyết về cái chết của Bắc cung hoàng hậu,
song thuyết đáng tin cậy nhất và được
nhiều người đồng t́nh là:
2.1Theo bản phả
kư họ Nguyễn Ngọc ở làng Phù Ninh, huyện Bắc Ninh, tỉnh
Bắc Ninh th́ Ngọc Hân mất ngày mồng 8 tháng 11 năm
Kỷ Mùi (tức 4-12-1799).
Khi đó Phan Huy
Ích đang là một trọng thần của nhà Tây
Sơn, đă soạn giúp năm bài văn tế.Cả
năm bài này, đều có chép trong Dụ Am văn tập.
Và cũng theo viên
quan này th́ tang lễ của Ngọc Hân được tổ
chức rất trọng thể và được an táng
tại Huế, 16 tháng trước khi Nguyễn ánh
đánh chiếm Phú Xuân.
Bài viết của
PGS Chu Quang Trứ c̣n cho biết thêm chi tiết :
“Lê Ngọc Hân
đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống
trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ở Huế) cạnh
điện Đan Dương để thờ chồng
nuôi con. (Lăng mộ Quang Trung, người
đương thời gọi là Đan Lăng hay
Đan Dương lăng. Tháng 11 Tân Dậu (1801), 6 tháng
sau khi chiếm được Phú Xuân, Gia Long đă cho phá
hủy lăng mộ Quang Trung, san thành b́nh địa. Từ
đó đến nay đă hơn 200 năm, Đan
Lăng bị mất dấu. Vị trí Lăng này ở
đâu vẫn là điều bí ẩn đối với
biết bao thế hệ các nhà nghiên cứu. Và điện
Đan Dương có thể ở kề cận
nơi chôn cất vua Quang Trung- người soạn ghi
thêm )
Bà gượng sống
đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799)
th́ mất, lúc ấy mới 29 tuổi. ( v́ lư do ǵ
cũng không thấy nêu cụ thể)”
2.1Và cũng
chính v́ không biết rơ v́ sao Bắc cung chết trẻ,
nên có nhiều lời đồn đoán như sau:
-Ngọc Hân bị
ép uống thuốc độc:
Ngô Tất Tố
trong "Lược sử công chúa Ngọc Hân"
(Thi văn b́nh chú, Hà Nội 1952)ghi :
Sau khi nhà Tây
Sơn thất bại, Ngọc Hân và các con đều
đổi tên họ lẻn vào một làng thuộc tỉnh
Quảng Nam. Nhưng chẳng bao lâu th́ bị phát giác, Ngọc
Hân phải uống thuốc độc tự tử, c̣n
hai con đều bị thắt cổ chết.
Đồng ư kiến
này, trên web dactrung.net, ở mục bài viết có bài “Bắc
Cung Hoàng Hậu”, không thấy ghi tên người soạn,
mô tả thêm :
Khi Nguyễn Quang
Toản, con ḍng lớn lên nối ngôi, bọn họ ngọai
mà đứng đầu thái Sư Bùi Đắc Tuyên
chuyên quyền, nội bộ triều Tây Sơn xảy
ra lục đục liên miên.
Ngọc Hân và hai
con phải đổi tính danh trốn vào sống lẫn
với dân chúng ở Quảng Nam. Không lâu sau, bị phát
hiện và bị bắt, Ngọc Hân uống thuốc
độc quyên sinh, hai con bị thắt cổ chết,
đó là năm Kỷ Mùi (1799) khi bà mới 29 tuổi.( tác giả không nói rơ phe nào đến bắt, bọn họ
ngoại của vua Quang Toản hay quan quân của Nguyễn
Ánh?-người soạn ghi thêm)
-Ngọc Hân
được b́nh yên chết ở quê nhà:
Theo bài “Triều
Nguyễn với Lê Ngọc Hân” đăng trên tạp
chí Xưa và Nay, Đỗ Đức Hùng viết :
Trước
đây trong một số bài viết của ḿnh, tôi
cũng theo ư kiến cho rằng công chúa Ngọc Hân đă
mất từ trước khi triều Tây Sơn bị sụp
đổ hoàn toàn.
Song khi đọc
kỹ lại "Quốc sử di biên", tập
thượng, bản dịch Sài G̣n 1973, tr.136., tôi thấy
tác giả đời Nguyễn là Phan Thúc Trực (1808 -
1852), chép rơ ràng như sau:
" Nguyên
năm Bính Ngọ (1786) niên hiệu Lê Cảnh Hưng, vua
Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Đến
khi nhà Tây Sơn mất, công chúa lại về ở tại
mẫu quán là làng Phù Ninh. Tại đây, tháng 5 năm Giáp
Tư (1804) công chúa nhà cựu Lê là Ngọc Hân tạ thế.Kẻ
hàng thần hiện nhậm chức quan tại huyện
Đông Ngạn xin làm tang lễ cho cố công chúa, nhà vua
chấp thuận, dân làng Phù Ninh làm từ đường
thờ cố công chúa"
Với tư
cách là bộ sử tư nhân, ghi chép và bổ sung những
sự kiện mà quốc sử c̣n bỏ sót hoặc
đề cập đến chưa chính xác, được
biên soạn vào khoảng đầu thời vua Tự
Đức (khoảng 1851 - 1852), quốc sử di biên
đă cung cấp những thông tin quan trọng:
- Có thể là
hai người con của bà Ngọc Hân với Nguyễn
Huệ đă bị giết hại sau khi nhà Tây Sơn bị
sụp đổ, nhưng riêng Lê Ngọc Hân vẫn c̣n sống
mà trở về quê mẹ là làng Phù Ninh.
- Bà Lê Ngọc
Hân đă qua đời tại quê nhà vào tháng 5 năm Giáp
Tư (1804) và đă được vua Gia Long nhà Nguyễn cho
phép làm tang lễ và nhân dân làng Phù Ninh đă xây dựng từ
đường để thờ bà. Điều này có thể
hiểu được v́ chính vua Gia Long đă lấy em
gái của Lê Ngọc Hân, nên ông vua này không thể không nể
t́nh …
Cùng quan điểm
này là tác giả Nhất Thanh trong bài viết “Công chúa
Lê Ngọc Hân...”, tạp chíVăn sử địa,
số 21, Sài G̣n, 1971.cũng
cho rằng khi triều Tây Sơn sụp đổ, Lê Ngọc
Hân có bị bắt cùng với hai con hoặc ở Huế
hoặc ở nơi khác. Vua Gia Long đă sai giết hai
con bà một cách kín đáo, c̣n riêng Lê Ngọc Hân th́ cho về
quê mẹ v́ nghĩ t́nh vừa lấy em bà là Lê thị Ngọc
B́nh làm vợ…
III.Về cái chết của 2 người con:
Ngày Phú Xuân thất
thủ, hai con Ngọc Hân đă trên 10 tuổi.Và cũng
theo Lê tộc phả kư th́ người anh trai hơn
đứa em gái 2 tuổi.
Lư do khiến hai
đứa trẻ vương giả này mất đi,
hiện nay vẫn c̣n nhiều ư kiến khác nhau:
3.1Không ghi lư do
chết:
-Theo PGS Chu Quang Trứ
:
“ Tiếp theo, triều đ́nh Cảnh Thịnh
lục đục và suy yếu, ngày càng bị tập
đoàn Nguyễn Ánh đe dọa. Hai con bà phải đổi
sang họ Trần, nhưng rồi với sự sụp
đổ của triều Tây Sơn, theo tộc phả
họ Nguyễn Đính, ngày 18 tháng 11 năm Tân Dậu
(23-12-1801), hoàng tử Nguyễn quang Đức mất
khi mới 12 tuổi, rồi ngày 17 tháng 4 năm Nhâm Tuất
(18-5-1802) công chúa Nguyễn Thị Ngọc Bảo cũng
mất khi mới 10 tuổi.”
-Đại Nam
Thực lục, bộ chính sử của nhà Nguyễn,
nhân năm 1842 phá hủy đền thờ Ngọc Hân ở
Phù Ninh cũng chỉ ghi rất mơ hồ:
"Nguyên
người xă ấy là Nguyễn Thị Huyền làm
cung nhân của vua Lê Hiển Tông, có người con gái là
Lê Ngọc Hân, sau gả cho ngụy (Nguyễn) Huệ,
sinh được 1 trai và 1 gái, Ngọc Hân chết, con
trai, con gái cũng chết non cả".
Phần "Biệt
lục" của tộc phả Nguyễn Đính có
ghi khá hơn, nhưng cũng không cho biết rơ nguyên do
cái chết:
Bà Nguyễn Thị
Huyền ( mẹ của Ngọc Hân, vợ vua Lê Hiển
Tông) thương con gái và các cháu ngoại đều
chết yểu nơi xa.
3.2Bị thắt
cổ chết, nhưng không ghi rơ ai giết:
Ngô Tất Tố ở
bài viết đă trích dẫn bên trên, ghi khá rơ: “Sau khi
nhà Tây Sơn thất bại …Ngọc Hân phải uống
thuốc độc tự tử, c̣n hai con đều
bị thắt cổ chết.”
3.3 Bị nhà
Nguyễn hành h́nh, thuyết này được nhiều
người tán đồng:
-Trích sách Triều
Tây Sơn của Phan Trần Chúc:
Khi thành Phú Xuân mất,
Quang Toản phải chạy ra Bắc, th́ Ngọc Hân nhờ
sự che chở của một bầy tôi cũ, mang hai
con chạy vào Quảng Nam, đổi tên 2 con ra họ Trần(
Trần Văn Đức, Trần thị Ngọc Bảo)và
khai ḿnh là vợ một người Bắc vào mua bán ở
Phú Xuân, gặp cơn loạn lạc không biết chồng
trôi giạt nơi đâu…
Sau có kẻ tố
giác nên quan tỉnh bắt mẹ con bà giam cầm. Kết
cục, Ngọc Hân phải nhận chén thuốc độc
để chết trước, v́ không muốn nh́n
thấy cảnh hai con bị nhà Nguyễn hành h́nh…
-Và trong bức
thơ đề ngày 16 tháng 7 năm 1801 của Barizy,
một sĩ quan người Pháp, tháp tùng cùng Nguyễn
Ánh vào chiếm Phú xuân đă ghi lại như sau:
"Nhà vua
(Nguyễn Ánh) bảo tôi đi xem mặt các cô công chúa của
kẻ tiếm vị (Quang Trung). Tôi đến đó họ
ở trong một pḥng hơi tối, không phải là một
pḥng sang trọng, có tất cả năm công chúa: một
cô 16 tuổi theo tôi là một cô gái đẹp,có tất cả
5 công chúa, một cô 16 tuổi, theo tôi là một cô gái
đẹp, một em bé 12 tuổi là con gái của bà Công
chúa Bắc kỳ (Ngọc Hân) em này cũng coi được,
c̣n ba cô nữa cũng từ 16 đến 18 tuổi th́
nước da hơi nâu nhưng diện mạo cũng dễ
thương.
Ngoài ra c̣n có 3 con
trai, có một em độ 16 tuổi cũng da nâu
nhưng nét mặt th́ tầm thường, c̣n em trai kia
độ 12 tuổi là con của bà công chúa Bắc kỳ
th́ diện mạo rất đáng yêu và có những cử
chỉ rất dễ thương".
Trong thư của
Barizy, ta không thấy ghi sự có mặt Hoàng hậu Ngọc
Hân mà ông ta đă gọi là “Công chúa Bắc kỳ”.Và nếu
ta tin theo 2 tư liệu sau, th́ 2 con của Ngọc Hân
đă bị nhà Nguyễn bắt được và bị
xử án chết.
< Sửa
đổi bởi: rongxanhag -- 14.1.2008 0:24:55 >
|
|
|
|
|
|
RE: Nhớ công chúa Ngọc
Hân… - 9.9.2007 5:19:36
|
|
|
|
rongxanhag
Bạn Thâm Giao


Bài viết đă đăng: 163
Gia nhập ngày: 1.4.2007
Hiện trạng: offline 
|
IV. Mồ mả
của Ngọc Hân:
1/ Khi xưa:
-Theo bài viết “Bắc
Cung Hoàng Hậu” mà tôi có nói ở phần trên, ghi:
Nghe tin Bắc
Cung hoàng hậu và 2 con chết thảm, Chiêu Nghi Nguyễn
Thị Huyền, mẹ đẻ ra Ngọc Hân, lúc
đó sống ở quê Phù Ninh (tục gọi là làng nành,
tỉnh Bắc Ninh) liền thuê người vào Quảng
Nam lấy trộm được xác con và hai cháu ngoại
đem về mai táng tại làng rồi cho dựng miếu
thờ.
Gần 50 năm
sau, dưới thời Thiệu Trị, miếu bị
đổ nát.
Một ông tú người
làng Nành nhớ công lao của Chiêu Nghi họ Nguyễn
đối với dân làng, đă quyên tiền tu sửa
ngôi miếu.
Không ngờ có tên
phó tổng cùng làng vốn thù riêng với ông tú, đă cất
công vào Huế tâu vua việc thờ "bọn ngụy
Huệ".
Triều đ́nh Huế
liền hạ lệnh triệt phá ngôi miếu, quật
ba ngôi mộ, vứt hài cốt xuống sông. Ông tú kia bị
trọng tội. Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn
Đăng Giai cũng bị giáng chức.
- Phần "Biệt lục"
của tộc phả Nguyễn Đính, tuy có khác một
vài chi tiết, nhưng đa phần sự việc xảy
ra cũng tương tự:
Bà Nguyễn Thị Huyền (mẹ của Ngọc Hân, vợ
vua Lê Hiển Tông) thương con gái và các cháu ngoại
đều chết yểu nơi xa. Nên vào năm 1804, bà
thuê người vào Phú Xuân lấy hài cốt của ba mẹ
con rồi cải táng vào giờ Ngọ ngày mồng 9
(16-7-1804).
Nơi đó nay là
Băi Cây Đại hay Băi Đầu Voi ở đầu
làng Nành, xă Phù Ninh ( nay là xă Ninh Hiệp - Gia Lâm, Hà Nội)
Sự việc này,
bộ Đại Nam thực lục ghi tiếp ở
năm 1842: "Khoảng năm đầu Gia Long, ngụy
đô đốc tên là Hài ngầm đem hài cốt mẹ
con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm ở
địa phận xă Phù Ninh. Thị Huyền ngầm
xây mộ, dựng đền, khắc bia giả, đổi
lại họ tên để làm mất dấu tích".
Vẫn theo tộc
phả họ Nguyễn Đính và kết hợp truyền
thuyết địa phương, th́ sau này có người
trong làng tố giác việc làm trên nên vua Thiệu Trị
đă cho phá hủy đền thờ ở dinh Thiết
Lâm, quật mộ ba mẹ con Ngọc Hân, đổ hài
cốt xuống sông - nơi này sau dân lập đền
ghềnh thờ bà; chánh tổng bị lột da, tri phủ
bị cách chức.
Bộ sử Đại
nam thực lục năm 1842 cũng xác nhận: "Tới
đây, việc ấy phát giác, vua sai hủy đền
thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy".
Từ năm 1842
dinh Thiết Lâm bị phá, nền dinh bỏ hoang thành
đất công của làng, nhưng dân vẫn gọi là
"Vườn Dinh" và dựng lên đây một
"Miếu cô hồn" kín đáo thờ Ngọc Hân.
Măi gần
trăm năm sau, đến năm 1937 họ Nguyễn
Đính đổi đất với làng lấy lại
một phần nền dinh Thiết Lâm và lập lại
đền thờ bà Nguyễn Thị Huyền cùng với
Ngọc Hân.
Đồng thời,
tại băi cây Đại, cùng với việc sửa lại
mộ bà Nguyễn Thị Huyền, dân làng cũng đắp
nấm mộ tượng trưng (mộ gió) của
mẹ con Ngọc Hân, tương truyền là chính chỗ
mà năm 1842 bị Thiệu Trị quật phá…
2.Và hôm nay:
a. Tiếng kêu cứu
từ phần mộ Ngọc Hân công chúa: Nguồn
http://www1.thanhnien.com.vn/Vanhoa/2006/5/8/147834.tno, ngày 08/05/2006
( trích ) :
Ông Nguyễn
Đ́nh Kiu là cháu đời thứ 5 của Công chúa Ngọc
Hân. Hiện nay, ông hơn 70 tuổi, là người kiên
tŕ làm đơn kiến nghị gửi đến các cấp
xin tôn tạo phần mộ và đền thờ Công chúa
vắn số này trong suốt 26 năm qua…
Đến năm
1990, được chỉ đạo trực tiếp của
Bí thư Thành ủy Hà Nội lúc bấy giờ là ông Phạm
Thế Duyệt , một đoàn cán bộ nghiên cứu
khoa học của Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội
đă đến điều tra xem xét và kết luận:
"Việc
hài cốt của danh nhân Lê Ngọc Hân và hai con chôn tại
miền Trung được mẹ là Chiêu nghi Nguyễn
Thị Huyền, t́m cách đem về chôn tại băi Cây
Đại, làng Phù Ninh, nay là xă Ninh Hiệp và được
cúng giỗ tại dinh Thiết Lâm của bà Nguyễn Thị
Huyền là sự kiện có thật.
"Với ư
nghĩa nhiều mặt, Lê Ngọc Hân đă có thời
gian gắn bó với quê ngoại khi sống cũng
như khi chết. Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội tán
thành với ư kiến của Hội đồng khoa học
là nên tạo dựng một h́nh thức xứng đáng
tại xă Ninh Hiệp ở khu mộ băi Cây Đại,
hoặc ở tại một điểm trang trọng
trên nền đất khu dinh Thiết Lâm cũ".
Vậy mà cho đến
nay,( tính thời điểm bài báo ra ngày 8/5/2006), đă
nhiều năm trôi qua kể từ ngày có sự chỉ
đạo đó( năm 1990), việc xây dựng khu
tưởng niệm Công chúa Ngọc Hân, vợ của
người anh hùng, vẫn chưa được bắt
tay thực hiện…
…Và tượng
bà Nguyễn Thị Huyền trước đây
được để trong nhà thờ th́ đă bị
ai đó gói vào bao tải cũ đặt ở nhà kho trạm
xá đă bỏ hoang, mạng nhện bùn đất đầy
đầu, đầy mặt tượng.Tới nay
tượng được "đối xử"
khá hơn một tí, có vải che mặt, trùm đầu,
song vẫn bị đưa vào tạm trú ở nhà kho của
"nhà văn hóa" xă.
C̣n phần mộ của
Ngọc Hân công chúa hiện nay chỉ c̣n là một cái nấm
thấp lè tè khoảng 20cm, bề ngang chỉ độ
50cm, dài chừng 2 thước…. (Theo Hồng Hạc)
b. Mộ tưởng
niệm công chúa Ngọc Hân (Hà Nội): Nguy cơ bị
biến mất.
( trích ):
…khu mộ mộ
bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền (mẹ của Ngọc
Hân, vợ vua Lê Hiển Tông) cùng mộ Ngọc Hân nằm
lọt thỏm giữa những căn nhà hai ba tầng…
Xung quanh khuôn viên
được xây bằng hàng ngạch tạm bợ và
đầy những vật liệu xây dựng ngổn
ngang. Chỉ tính khuôn đất dành riêng cho hai ngôi mộ
này th́ nhiều lắm cũng chỉ 10m2
Riêng ngôi mộ
“tưởng niệm” Ngọc Hân th́ quá thô sơ. không
bia, không tên, tuổi; chiều dài chỉ khoảng 2m, rộng
60cm và cao 20cm..
(Báo Pháp luật
& đời sống, số ra ngàyThứ Năm,
21/06/2007)
V.Ư của người
soạn để thay lời kết:
Người soạn
nghiêng về ư kiến: Ngọc Hân mất ngày mồng
8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799), lúc ấy mới 29 tuổi.
C̣n lư do chết trẻ của cả 3 mẹ con: bị
bệnh nặng rồi mất hay bị ai đó giết,
ta đành phải chờ ư kiến của các nhà sử học.
Việc cải táng
rồi bị phá bỏ mồ mả của mẹ con bà
tôi tin vào Đại Nam thực lục, là bộ
chính sử của nhà Nguyễn.
Ngẫm cuộc
đời Lê Ngọc Hân tuy ngắn ngủi, nhưng bà
thực sự là một nhân vật lịch sử, một
nữ sĩ tài hoa, một người vợ tuyệt
vời với nhiều phẩm hạnh cao quí, thật xứng
đáng là người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu
ở thế kỷ ấy.
Và cuộc đời
của bà cũng đâu thiếu cảnh éo le: Ngọc
Hân lấy vua Quang Trung đó chỉ là v́ hiếu đối
với cha, v́ xă tắc nhà Lê nhưng lại bị Tôn thất
của nhà Lê ruồng bỏ v́ cho bà ăn phải “bă” của
Tây Sơn nên đă “phản phúc”…
Ấy vậy mà gần
50 năm sau khi bà đă mất đi, nghịch cảnh
đen đủi vẫn c̣n đeo bám: không ngờ có kẻ
đă kể trên, chắc chắn nhân cách chẳng ra ǵ,
đă cất công vào tận Huế tố cáo việc thờ
"bọn ngụy Huệ". Khiến vua Thiệu Trị
hạ lệnh triệt phá ngôi miếu, khai quật cả
ba ngôi mộ của mẹ con bà, vứt tất cả
hài cốt xuống sông…
Vậy là lăng mộ
cùng thân xác của người “anh hùng áo vải” cũng
chẳng c̣n; chút hài cốt của người vợ trẻ
cùng 2 con thơ dại của người hùng anh ấy
cũng chẳng c̣n ; c̣n chăng chỉ là ba nấm
mộ gió nằm lặng lẽ, hiu quạnh…
được người dân thủa xưa kia yêu mến
lén lút đắp lên & thờ cúng như
những"cô hồn"!...
Thật ḷng mấy
câu thơ trong bài “Ai Tư Văn” mà Ngọc Hân dành để
tế vua Quang Trung:
Cuộc tụ,
tán, bi, hoan kíp bấy,
Kể sum vầy
đă mấy năm nay?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đă vậy, thân này nương đâu?..
.
Tôi tin người
góa bụa trẻ vương giả này không chỉ khóc
cho chồng, cho sự rạn nứt chóng vánh của một
triều đại, mà c̣n để khóc cả cho thân phận
ḿnh !...
Bùi Thụy
Đào Nguyên, biên soạn.
( Bạn đọc
xem toàn bộ bài “Ai Tư Văn “ tại địa chỉ
:
http://annonymous.online.fr/Thivien/viewpoem.php?ID=192
< Sửa
đổi bởi: rongxanhag -- 14.1.2008 0:32:45 >
(trả
lời: rongxanhag)
|
|
|
|
|
RE: Nhớ công chúa Ngọc
Hân… - 1.1.2008 3:42:40
|
|
|
|
rongxanhag
Bạn Thâm Giao


Bài viết đă đăng: 163
Gia nhập ngày: 1.4.2007
Hiện trạng: offline 
|

Phần soạn
thêm :
1.Nhân đây xin
được đính chính :
Số đâu có số
lạ đời,
Con vua mà lại hai đời chồng vua.
Đó là hai câu ca
dao vẫn c̣n lưu truyền trong dân gian tại vùng
đất cố đô Huế cho đến những
năm đầu thế kỷ XX. Nó phản ánh một
thực tế lịch sử. Song cái nguy hại là nhiều
người đă hiểu lầm câu ca dao kia ám chỉ
vào công chúa Lê Ngọc Hân. Thậm chí, một tác giả
đă viết cả một bài báo.
Đó là một sự
lầm lẫn.Thực tế, Ngọc Hân chưa từng
bao giờ lấy vua Gia Long mà đó chính em gái của bà
tên Lê Thị Ngọc B́nh, người vợ trẻ
đẹp của vua nhà Tây sơn Nguyễn Quang Toản.
2.Vài lời với
những tác giả có tư liệu mà tôi đă sử dụng:
Với tấm ḷng
muốn “ôn cố tri tân”,“ dân ta phải biết sử
ta”; và cũng chỉ nhằm mục đích chia sẻ,
không vụ lợi; tôi mong những tác giả có tư liệu
mà tôi đă trích dẫn trong bài viết, xin vui ḷng lượng
thứ v́ lỗi “sử dụng không xin phép trước”.
Chào trân trọng. BTĐN
Ảnh : Mộ Nguyễn Thị Huyền,có miếu thờ
nhỏ
“Mộ gió” Lê Ngọc
Hân nằm phía bên phải ảnh,
( không hiểu sao
ngay cả nơi này,
người ta
cũng đem phơi đủ loại quần áo …)
< Sửa
đổi bởi: rongxanhag -- 14.1.2008 0:34:17 >
|
|
http://chimviet.free.fr/lichsu/chung/hvcs050.htm
|
Công chúa Đông Đô,
Hoàng hậu Phú Xuân
Nàng là ai ?
Minh Vũ Hồ Văn Chầm
|
Trên dưới hai trăm năm nay, trong dân gian thường
truyền tụng câu ca dao:
Gái đâu
có gái lạ đời
Con vua lại lấy
hai đời chồng vua
Con vua đây là con vua Hiển tông triều Hậu Lê. Nhà Hậu
Lê đóng đô ở Hà nội ngày nay, thời bấy giờ
gọi là Đông đô. Nàng là công chúa Đông đô. Hai đời
chồng vua th́ một đời chồng là vua nhà Nguyễn
Tây Sơn, c̣n đời chồng kia là vua sáng lập nhà cựu
Nguyễn. Cả hai triều vua Nguyễn Tây Sơn và cựu
Nguyễn đều đóng đô ở thành phố Huế
ngày nay, thời bấy giờ gọi là Phú Xuân. Nàng là Hoàng hậu
Phú Xuân. Vậy nàng là công chúa Đông đô, Hoàng hậu Phú Xuân.
Nàng quả là một nhân vật phi thường. Nàng là ai vậy?
Trong lịch sử cận đại Việt Nam, hễ nói
đến công chúa con vua mà lại lấy chồng vua, làm
hoàng hậu, là người ta nghĩ ngay đến công chúa
Lê Ngọc Hân, con vua Lê Hiển tông, gả làm vợ vua Quang
Trung nhà Nguyễn Tây Sơn. dựa vào câu hát dân gian trên
đây, người ta lại cho rằng sau khi nhà Tây Sơn
mất ngôi, công chúa Lê Ngọc Hân được vua Gia Long lập
làm Đệ Tam cung, cho nên bà là công chúa mà lại lấy chồng
hai lần, cả hai đời chồng đều là chồng
vua cả. Lại cũng có truyền thuyết cho rằng
sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, chung cục của Lê Ngọc
Hân vô cùng bi thảm. Bà đă cùng hai con trốn tránh
được một thời gian rồi bị bắt và
bị xử cực h́nh.
Sự thực như thế nào? Nàng công chúa Đông đô, Hoàng
hậu Phú Xuân đích thực là ai vậy?
Công chúa Lê Ngọc Hân sinh năm 1771, niên hiệu Cảnh
Hưng thứ 32, là công chúa thứ 21 con vua Hiển Tông nhà Hậu
Lê. Bà mẹ công chúa Lê Ngọc Hân tên là Nguyễn Thị Huyền,
người làng Phù Ninh, huyện Đông ngàn, tỉnh Bắc
ninh. Công chúa Lê Ngọc Hân là em Thái tử Lê Duy Vỹ và là cô
Hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ tức là người sau này lên nối
ngôi vua Lê lấy niên hiệu là Chiêu Thống. Khi Nguyễn Huệ
làm tiết chế, thống lĩnh quân đội Tây
Sơn ra đánh Bắc Hà với danh nghĩa "Phù Lê diệt
Trịnh" vào năm 1786 th́ công chúa Lê Ngọc Hân mới
16 tuổi. V́ Nguyễn Huệ một phần nào cũng có
bụng tôn phù nhà Lê, mặt khác do sự mối mai thu xếp
của Nguyễn Hữu Chỉnh muốn bắc cầu
thân gia giữa vua Lê Hiển tông và Tiết chế Nguyễn
Huệ, nên vua Lê Hiển tông đă đem công chúa Lê Ngọc
Hân gả cho Nguyễn Huệ và phong Nguyễn Huệ làm
Nguyên súy dực chính phù vận Uy Quốc công.
Từ cờ
thắm trở vời đất bắc
Nghĩa tôn phù vằng
vặc bóng dương
Rút dây vâng mệnh phụ
hoàng
Thuyền lan chèo quế
thuận đường vu quy
Hai vợ chồng Nguyễn Huệ lưu lại Đông đô
một thời gian ngắn. Sau khi vua Lê Hiển tông băng
hà, công chúa Lê Ngọc Hân theo chồng về Phú Xuân. Đến
năm 1789, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, phong cho
công chúa Lê Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng hậu. Thế là
nàng công chúa Đông đô đă trở thành Hoàng hậu Phú Xuân.
Điều cần lưu ư là vua Quang Trung có đến hai bà
Hoàng hậu được tấn phong cùng một lúc. Ngoài
Bắc cung Hoàng hậu họ Lê, vua Quang Trung c̣n có Chính cung
Hoàng hậu họ Phạm. Theo Tây Sơn Tiềm Long lục,
bà Hoàng hậu họ Phạm này tên là Phạm Thị Liên,
người B́nh Định, là anh em ruột với Hộ
giá Phạm Văn Ngạn, Giả vương Phạm
Văn Trị, Thái úy Phạm Văn Tham và Thái úy Phạm
Văn Hưng. Bà Phạm Thị Liên lại c̣n là anh em cùng mẹ
khác cha với Thái sư Bùi Đắc Tuyên và H́nh bộ Thượng
thư Bùi Văn Nhật.
Chính cung Hoàng hậu họ Phạm sinh hạ được
5 người con: 3 trai, 2 gái. Người con trai lớn là
Quang Toản, c̣n có tên là Quang B́nh, về sau nối ngôi nhà Tây
Sơn, tức là vua Cảnh Thịnh. Hai người con
trai kia th́ một người tên là Quang Bàn, được
phong Tuyên công Lănh Đốc Trấn Thanh hóa, một người
tên là Quang Thiệu được cử làm Thái tể. Hai
người con gái th́ một người lấy Pḥ mă Nguyễn
Văn Trị, c̣n một người th́ gả cho Nguyễn
Phước Tư là Tôn thất Hệ nhất nhà cựu
Nguyễn. Vua quang Trung rất mực kính trọng bà Chính
cung Hoàng hậu họ Phạm này. Theo các tài liệu của
Phái bộ Truyền giáo Nam Hà, nhất là lá thư của
giáo sĩ Girard đề ngày 25-11-1792 gởi giáo sĩ Boiret
ở Macao, th́ khi hoàng hậu lâm bệnh, vua Quang Trung đă
cho mời thầy thuốc người Âu đến chữa
bệnh và đến khi hoàng hậu mất th́ nhà vua đau
đớn vật vă đến phát điên phát cuồng. Bà
mất ngày 29-3-1791 mà măi đến ngày 25-6 năm đó mới
đưa đi chôn cất. Bà được truy tặng
là Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Nhu Thuần Vũ Hoàng
Chính Hậu.
Về phần Bắc cung Hoàng hậu họ Lê, bà là lá ngọc
cành vàng, quê ngoại lại là xứ Kinh Bắc tài hoa
văn vật, nên bà là một phụ nữ thông minh, đức
hạnh và nhan sắc, thật là vẹn toàn mọi vẻ.
Ngày mới thành hôn với Nguyễn Huệ, trên đường
đi bái yết các tiên đế ở Thái miếu trở
về, Nguyễn Huệ hỏi bà: "Các hoàng tử và công
chúa, mấy ai được vinh hạnh như nàng,
được thành thân với ta, nàng cảm thấy
như thế nào?" Tuy mới 16 tuổi đầu, công
chúa Lê Ngọc Hân đă tỏ rơ là người giỏi ứng
đối: "Nhà vua quen sống đạm bạc, bổng
lộc ít ỏi, các hoàng tử và công chúa đều thanh bạch,
nay thiếp được nâng khăn sửa túi cho chúa
công, cũng tỷ như giọt nước trên không trung
rơi vào nơi lầu son gác tía, thân phận thiếp quả
là may mắn hơn cả." Nguyễn Huệ rất
đẹp ḷng.
Bà có nhiều ảnh hưởng trong các quyết định
quan trọng của Nguyễn Huệ. Khi vua Lê Hiển tông
băng hà, Nguyễn Huệ đă nghe lời công chúa Lê Ngọc
Hân, có ư muốn lập Sùng Nhượng công Duy Cận lên
ngôi thiên tử. Nhưng hoàng tộc nhà Lê v́ việc đó mà
đ̣i tước bỏ sổ bộ của công chúa. Nguyễn
Huệ lại theo lời bà mà chịu lập Hoàng tử
tôn Duy Kỳ lên ngôi vua.
Vừa thông minh,vừa khôn khéo, trong thời gian làm Hoàng hậu
ở Phú Xuân, công chúa Lê Ngọc Hân chẳng những chỉ
làm đẹp ḷng Đức chí tôn mà c̣n khuynh loát cả triều
đ́nh như chúng ta sẽ thấy về sau này ảnh
hưởng của bà lớn lao như thế nào trong việc
tuyển chọn hoàng hậu cho vua Cảnh Thịnh. Thật
vậy, bà đă quyết định đem em gái là công chúa
Lê Ngọc B́nh, cũng là công chúa con vua Lê Hiển tông như
bà, vào làm chính cung cho Hoàng đế nối nghiệp nhà Tây
Sơn là vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản.
Công chúa Lê Ngọc Hân lấy Nguyễn Huệ năm 1786, thụ
phong Bắc cung Hoàng hậu năm 1789. Bà sinh hạ một
trai là Nguyễn Văn Đức và một gái là Nguyễn Thị
Ngọc. Công chúa Lê Ngọc Hân mất năm 1799,
đương triều vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn
Tây Sơn. Năm đó bà mới 29 tuổi. Bà được
truy tặng là Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng
Hậu. Bà là người vừa giỏi văn quốc âm,
vừa thông sách Hán tự. Lúc vua Quang Trung c̣n sống, bà
thường giảng giải kinh điển cho nhà vua nghe.
Vua Quang Trung cử hành lễ Tứ tuần Vạn thọ
Khánh tiết, bà dâng bài biểu mừng như sau:
"Tư ngộ
thiên thọ khánh tiết, thanh thiên ứng luật, hôn chử
tại th́. Ngọc thụ phiêu hương, bích đào hiến
trường sinh chi quả; ngân thiềm thổ diễm,
băng hồ khai phục đán chi hoa. Tử ái nùng nhi khuê
các đằng phương, thụy khí sảng nhi vu huy
tăng sắc. Cẩn phụng biểu xưng hạ giả.
Phục dĩ thụy khí trinh tường, thông uất phụng
lân chi thái; quang thiên xiển lăng, chiếu hồi Dực chẩn
chi hư, Quế điện truyền hương; tiêu
đ́nh dật khánh. Khâm duy Hoàng đế Bệ hạ, tài
cao thiên cổ, đức phối lưỡng nghi. Cung thiên
phi chấn vũ công. Tây thổ bí hưng vương chi sự
nghiệp; th́ hạ tứ trần ư đức, đông giao
hoàn định quốc chi qui mô. Xích nhật minh nhi ngung
nhược hữu phu; thọ tinh diệu nhi chiêm y cọng
ngưỡng. Thần Xu điện nhiễu quang phù Vạn
Thọ chi bôi; xương hạp vân khai dinh triệt thiên
thu chi kính. Tứ tự thường điều ngọc
chúc, ức niên vĩnh điện kim âu.Thần đức
thiểm Quan thư, nhân tàm Cưu mộc. Trung khổn cận
bồi chẩn tọa, bái chiêm bát thiên xuân sơ kỷ chi
tiên trù; nội đ́nh mật nhĩ thiều âm, cẩn chúc
thiên vạn tuế vô cương chi đỉnh tộ."
(Nay gặp
khánh tiết mừng tuổi thọ của Hoàng đế,
khúc nhạc Thanh thương ứng luật hợp tiết,
cồn hoa đang độ. Cây ngọc đưa
hương, cây bích đào dâng quả trường sinh;
trăng bạc nhả ánh trăng trong, hồ băng lại
nở hoa buổi sáng. Mây mù sắc tía nồng đượm
mà khuê pḥng hương nức; khí lành sáng tỏ mà áo xiêm thêm
màu. Kính cẩn dâng bài biểu chúc mừng. Cúi lấy khí lành
tŕnh điềm tốt, tưng bừng màu sắc con phụng
con lân; đầy khắp thiên hạ chiếu về cơi
hư không sao Dực sao Chẩn. Điện quế truyền
hương; sân tiêu tràn điều mừng.Kính nghĩ Hoàng
đế Bệ hạ, tài cao thiên cổ, đức hợp
với Trời và Đất. Cung kính thi hành sự trừng phạt
của Trời lớn lao chấn động vũ công,
đất Tây Sơn đẹp đẽ hưng sự
nghiệp đế vương; trần bày đức
đẹp vào bản nhạc ca vĩ đại, ở cơi
giao phía đông đă định xong qui mô của nước
nhà. Mặt trời đỏ rạng mà nghiêm đáng tin (quẻ
quan); sao thọ tinh chiếu sáng mà thiên hạ đều
cùng ngưỡng lên trông mong nương tựa (thiên Tiểu
biền, phần Tiểu nhă trong Kinh Thi). Sao xu của Bắc
đẩu điện vây, ánh sáng nổi lên chen mừng Vạn
thọ; cửa Trời mây mở, sắc trong thấu triệt
mặt kính ngàn thu. bốn mùa thường điều hoà
khiến cái đức của vua đẹp như ngọc
sáng như đuốc; trong ức năm măi vững chiếc
lọ vàng.
Hạ thần đức thẹn với thơ Quan Thư,
nhân ngượng với thơ Cưu mộc. Trong nội
thất theo hầu kề cùng ngồi mặc đồ lộng
lẫy, vái mong tính theo tuổi thiên niên kỷ khởi đầu
của tuổi Bệ hạ một mùa xuân tám ngàn năm; chốn
nội đ́nh kề sát nghe nhạc thiều, ân cần chúc
phước của quốc gia được ngàn muôn
năm vô hạn)
(Nam Phong Tạp chí, số
103, năm 1926, phần Hán văn, bản dịch của Tạ
Quang Phát)
Công chúa Lê Ngọc Hân vừa thông Hán tự, vừa giỏi quốc
văn. Lúc hoàng đế Quang Trung băng hà vào ngày 15 tháng 9
năm 1792, bà mới có 22 tuổi. Bà chỉ mới chung sống
với nhà vua vỏn vẹn có 6 năm trời, có được
hai mặt con. Làm sao có thể tưởng tượng hết
tâm trạng thống khổ của bà lúc bấy giờ. Rất
may cho hậu thế là bà có soạn một bài văn tế
bằng quốc âm để tế nhà vua. Trong nỗi bất
hạnh lớn lao của công chúa Lê Ngọc Hân là cái may mắn
tột cùng của nền văn học nước nhà. Bà
đă để lại cho đời sau bài Ai Tư Văn mà tất
cả chúng ta đều đă biết. Tuy không thể so sánh
ngang hàng với truyện Kim Vân Kiều hay Khúc Ngâm Chinh Phụ,
nhưng bài Ai Tư Văn cũng là một áng văn rất
đáng trân trọng, cũng là một vật báu trong kho tàng
văn học nước nhà. Trong bài điếu văn có
nhiều câu nhiều chữ đọc lên như oán như
than, khiến người thưởng lăm cũng thấy
nao ḷng. Phải là người trong cuộc, và tâm hồn hết
sức tinh tế, t́nh cảm hết sức bén nhảy, mới
có thể giải bày tâm trạng bi thương thành những
lời thơ năo nùng diễm tuyệt nhường ấy!
Nỗi buồn nào lê thê bằng nỗi buồn của
người góa phụ c̣n trẻ đau đớn than van về
cái chết đột ngột của người chồng
vương giả tài cao mà mện đoản:
Khi trận
gió hoa bay thấp thoáng
Ngỡ hương
trời bảng lảng c̣n đâu
Vội vàng sửa
áo lên chầu
Thương ôi, quạnh
quẽ trước lầu nhện giăng!
và niềm xót
xa nào bi thiết hơn niềm xót xa của người mẹ
trẻ v́ thương con c̣n trứng nước mà chưa
thể liều thân cjo vẹn chữ ṭng:
Quyết liều
mong vẹn chữ ṭng
Trên rường nào
ngại, giữa gịng nào e
C̣n trứng nước
thương v́ đôi chút
Chữ thân t́nh
chưa thoát được đi
Công chúa Lê Ngọc Hân là người tài sắc vẹn toàn.
Bà sinh trưởng nơi chốn điện ngọc đền
vàng, đă là công chúa con vua lại lấy chồng làm vua. Sau
khi Hoàng đế Quang Trung băng hà, Hoàng thái tử Quang Toản
lên kế vị, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh. Tuy
vua Cảnh Thịnh là con của bà Vũ hoàng Chính hậu họ
Phạm, nhưng lúc bấy giờ bà này đă mất, nên
công chúa Lê Ngọc Hân được tôn lên ngôi vị Hoàng
Thái hậu. Hơn nữa, bà lại c̣n là chị ruột của
công chúa Lê Ngọc B́nh lúc bấy giờ là Hoàng hậu vợ
vua Cảnh Thịnh. Trong chốn nội đ́nh, địa
vị của bà như vậy có thể nói là tột cùng tôn
quí. Tuy nhiên, trong thời gian vua Cảnh thịnh mới lên
ngôi, quyền lực trong triều bị thu tóm vào tay Thái
sư Bùi Đắc Tuyên và gia đ́nh họ Bùi, gây nên t́nh trạng
bè phái chia rẽ, và công chúa Lê Ngọc Hân đă rất đỗi
đau ḷng.
Thật vậy, nhóm quyền thần gốc B́nh Định
của Thái sư Bùi Đắc Tuyên và Thái phó Trần Quang Diệu
đă chèn ép các bề tôi cũ của vua Quang Trung gốc
Thuận hóa và Bắc Hà, gây nên việc Trần Văn Kỷ
bị đi đày. Ngô Văn Nhậm, Phan Huy Ích bị thất
sủng, khiến Ngô Văn Sở bỏ chạy theo Nguyễn
vương, tất cả những điều đó đă
làm cho cuộc sống công chúa Lê Ngọc Hân phải trải
qua một giai đoạn giao động. Nhưng sau cuộc
chỉnh lư của Tư đồ Vơ Văn Dũng, cha con
Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ bị trầm hà, phe phái lộng
thần bị dẹp tan, triều đ́nh trở lại ổn
định, bên trong Tư đồ với Thái phó giảng
ḥa, bên ngoài dân chúng liên tiếp mấy năm được
mùa, th́ nỗi ḷng công chúa Lê Ngọc Hân cũng vơi bớt
chút ưu tư về thế cuộc, chỉ c̣n chĩu nặng
niềm thương nhớ người chồng tài cao mà mệnh
đoản:
Theo buổi
trước ngự đèo Bồng Đảo
Theo buổi sau ngự
nẻo sông Ngân
Theo xa xôi lại theo
gần
Theo phen điện
quế, theo lần nguồn hoa.
và nỗi xót
xa hai đứa con c̣n trứng nước sớm lâm cảnh
côi cút mà thôi:
Gót lân chỉ
mấy hàng lẩm chẩm
Đầu mũ mao ḿnh
tấm áo gai
U ơ ra trước
hương đài
Tưởng quang cảnh
ấy chua cay dường nào.
Năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ
7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, hưởng dương 29
tuổi. Lễ bộ Thượng thư Đoan Nham hầu
Phan Huy Ích phụng chỉ soạn bài văn tế cho Hoàng
đế Cảnh Thịnh đích thân đọc trước
linh sàng Hoàng thái hậu họ Lê. Bà được truy tặng
là Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Bài
văn tế này đă được Hoa Bằng Hoàng Thúc
Trâm t́m thấy và công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm
1943 tại Hà nội.
Vậy rơ ràng công chúa Lê Ngọc Hân đă mất tại Phú
Xuân, đương triều vua Cảnh Thịnh. Tuy vậy,
chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân vẫn là một
đề tài cho nhiều câu chuyện thành văn hoặc
truyền khẩu khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau
là đằng khác. Nguyên do là sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi,
con cháu nhà Tây Sơn bị tuyệt diệt, các tài liệu về
nhà Tây Sơn bị cấm tàng trữ, nên chẳng c̣n ai có
cơ hội và phương tiện nghiên cứu thân thế
và sự nghiệp các nhân vật thời Tây Sơn một
cách chính xác và rơ ràng. Các tài liệu về nhà Tây Sơn
được lưu hành chỉ thuần một loại
là các sử liệu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn
mà thôi. Hơn nữa, những người đặt chuyện
dă sử lại có thói quen dệt gấm th́ thường
thêm hoa, để cho câu chuyện đượm phần ly
kỳ hấp dẫn. Bởi những lẽ đó mà chung cục
của công chúa Lê Ngọc Hân được kể lại
trong các câu chuyện thành văn hay truyền khẩu đă
không đúng với sự thật. Không có câu chuyện nào kể
rằng công chúa Lê Ngọc Hân đă chết khi nhà Tây Sơn
đang c̣n trị v́ ở Phú Xuân. Ngay cả việc ông Hoa Bằng
trên tạp chí Tri Tân năm 1943 xuất bản tại Hà nội
đă công bố bài Văn tế Vũ Hoàng hậu do Phan Huy
Ích phụng chỉ vua Cảnh Thịnh viết để
nhà vua đích thân đọc trước linh sàng công chúa Lê
Ngọc Hân, cũng chẳng thay đổi được
t́nh trạng ngộ nhận nói trên. Từ 1943 đến
nay, các huyền thoại về công chúa Lê Ngọc Hân truyền
tụng trong dân gian cũng như các truyện dă sử viết
về chung cục công chúa Lê Ngọc Hân xuất hiện trên
sách báo vẫn cứ một chiều đi theo con đường
cũ sai lạc bấy lâu nay. Những truyền thuyết
và chuyện dă sử về công chúa Lê Ngọc Hân từ
trước đến nay có thể xếp vào hai loại.
Loại thứ nhất nói rằng sau khi nhà Tây Sơn mất
ngôi, công chúa Lê Ngọc Hân đă đưa hai con đi trốn,
sống trà trộn trong dân chúng được một thời
gian rồi rốt cục cũng bị phát hiện và bị
giải về Huế xử cực h́nh. Loại thứ hai
nói rằng sau khi diệt nhà Tây Sơn, vua Gia Long đă sách lập
công chúa Lê Ngọc Hân làm Đệ Tam cung, và bà đă có hai con với
nhà vua là các hoàng tử Quảng Oai công và Thường Tín Quận
vương mà từ đường đến nay vẫn
c̣n ở ngoại ô thành phố Huế.
Những truyền thuyết và chuyện dă sử về
chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc loại thứ
nhất th́ đại thể về nội dung đều
giống nhau, có khác biệt là chỉ khác biệt về
địa điểm đi lánh nạn mà thôi. Sau khi nhà Tây
Sơn mất, công chúa Lê Ngọc Hân đem hai con chạy trốn
vào Quảng nam, sống trà trộn trong dân chúng được
một thời gian, cuối cùng bị phát hiện, bị bắt
đưa về Phú Xuân và bị xử án tam ban triều
điển.
Nhiều truyền thuyết khác th́ nói rằng công chúa Lê Ngọc
Hân đem các con chạy trốn vào quê chồng ở B́nh
Định, rồi cũng bị bắt và cũng bị xử
cực h́nh như đă nói ở trên. Trong những thập
niên 60, 70 lại có những câu chuyện ly kỳ hơn về
chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân, cả thành văn
lẫn truyền khẩu, theo đó th́ công chúa Lê Ngọc Hân
đă mang các con chạy trốn vào tận Đồng nai Gia
định, nhờ đó mà tránh được tai mắt
và nanh vuốt kẻ thù. Nhiều câu chuyện truyền miệng
lại c̣n đi xa hơn, kể rằng sau khi nuôi dạy
các con khôn lớn nên người, công chúa đă thí phát, tu
hành đắc đạo và trở thành Giáo chủ của
giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Nhiều người
trong Nam mang họ Nguyễn lại tự nhận là hậu
duệ của Hoàng tử Nguyễn Văn Đức - con Đại
đế Quang Trung và Vũ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Gần
đây, ở hải ngoại lại có một vài tác giả
viết dă sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc
Hân, viết rằng sau khi Đông đô thất thủ, nhà Tây
Sơn mất ngôi, công chúa đă đem hai con chạy trốn
về một vùng quê hẻo lánh ở Hải dương, sống
lén lút trà trộn trong dân chúng được một thời
gian rồi rút cục cũng bị phát hiện, bị bắt
và bị giải về Phú Xuân lănh án tử h́nh.
Tất cả những câu chuyện về chung cục bi
thương huyền hoặc của công chúa Lê Ngọc Hân
là hoàn toàn không phù hợp với sự thật lịch sử
bởi một lẽ giản đơn và rơ ràng là công chúa
Lê Ngọc Hân đă chết khi nhà Tây Sơn chưa mất
ngôi. Công chúa Lê Ngọc Hân mất vào năm 1799, dưới
triều vua Cảnh Thịnh, nghĩa là trước khi kinh
thành Phú Xuân thất thủ. Công chúa Lê Ngọc Hân đă
được truy tặng là Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất
Vũ Hoàng Hậu. Công chúa Lê Ngọc Hân đă được
ma chay tống táng tại kinh thành theo đúng nghi thức
vương giả dành cho một bậc mẫu nghi thiên hạ.
Bằng chứng hùng hồn là bài văn tế Vũ Hoàng Hậu
t́m thấy trong Dụ Am Văn Tập của Phan Huy Ích mà
Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đă công bố trên tạp chí Tri Tân
vào năm 1943 tại Hà nội. Công chúa Lê Ngọc Hân đă
chết đương thời vua Cảnh Thịnh trị
v́ th́ làm ǵ có câu chuyện công chúa Lê Ngọc Hân phải lâm cảnh
bôn ba lưu lạc sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi.
Về phần hai người con của công chúa Lê Ngọc
Hân th́ một nhà truyền giáo Tây phương thời bấy
giờ tên là L. Barizy đă cho biết là cả hai đều
bị Nguyễn vương bắt lúc thành Phú Xuân thất
thủ, không kịp chạy theo vua Cảnh Thịnh ra Bắc
hà. Giáo sĩ L. Brarizy đă nhận diện và không tiếc lời
ca ngợi khuôn mặt tuấn tú và thái độ cứng cỏi
của hai đứa trẻ khi bị xử tử h́nh vào
năm 1802, cùng một lần với vua Cảnh Thịnh
Nguyễn Quang Toản. Như vậy, hai người con của
công chúa Lê Ngọc Hân đều đă bị yểu vong th́
làm ǵ có câu chuyện hậu duệ của công chúa c̣n nối
dơi tới bây giờ.
Các truyền thuyết và truyện dă sử về chung cục
của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc loại thứ hai so với
những câu chuyện trên đây th́ ly kỳ hơn và chứa
đựng nhiều t́nh tiết hư cấu xoay quanh các sự
kiện lịch sử có thật. Thí dụ có chuyện kể
rằng đầu năm Tân Dậu 1801, Nguyễn
vương theo kế sách "Tượng kỳ khí xa"
của Nguyễn Văn Thành, đă bỏ rơi Vơ Tánh bị
vây trong thành B́nh Định để đem toàn lực ra
đánh úp Phú Xuân. Ngày mồng 1 tháng 5 năm Tân Dậu, Nguyễn
vương vào cửa Tư Dung, đến tối vượt
phá Hà trung tiến chiếm bến đ̣ Trừng Hà, ngày hôm
sau đánh tan quân của vua Cảnh Thịnh ở cửa
Eo và sáng ngày mồng 3 tháng 5 đem đại binh vào thành Phú
Xuân dụng quân thần tốc đến độ vua Cảnh
Thịnh thua chạy không kịp mang theo gia quyến. Tối
hôm mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu, Nguyễn vương
đi tuần tra trong thành và đă gặp người thiếu
phụ vương giả để rồi nên duyên vợ
chồng.
Lại có chuyện kể rằng khi vua Gia Long quyết
định sách lập công chúa Lê Ngọc Hân làm Đệ Tam cung,
triều thần có người can gián, cho rằng công chúa
chỉ là vật dư thừa của Tây Sơn, và nhà vua
đă trả lời rằng chúng ta tiêu diệt Ngụy Tây
th́ giang san này, thành quách này, nhất nhất há chẳng phải
lấy lại từ tay Ngụy Tây hay sao, như thế
cũng là vật dư thừa của Tây Sơn vậy. Lại
có chuyện kể rằng sau khi vua Gia Long băng hà, Quảng
Oai công yểu tử, Thường Tín Quận vương
đă lập phủ đệ riêng, th́ Đệ Tam cung Lê Ngọc
Hân lui về dưỡng già tại quê mẹ ở Bắc
ninh cho đến lúc lâm chung. T́nh cảnh công chúa "vinh diệu
một đời có thể nói là cùng tột, thế mà trong
những ngày xế bóng lưu lạc nơi quê ngoại,
tưởng tới chuyện xưa cảnh cũ, há chẳng
nao ḷng mà than thở cho Tạo vật đă khéo trêu
ngươi, không có việc ǵ lại không xảy ra
được khiến phát sinh nỗi cảm khái vô cùng cho
cuộc sống phù du!"
(Hậu hứa
Bắc quy tùng mẫu thị hương quán trú ư Bắc
ninh nhi chung yên. Khảo chúa tiểu tắc vi hoàng nữ,
trưởng tắc vi hoàng hậu, kế vị hoàng thái hậu.
Kỳ nhất sinh chi vinh diệu khả vị cực hỉ.
Cập kỳ văn niên bất miễn ư lưu lạc,
tưởng Chúa ư thử th́ phủ kim tư tích, xúc cảnh
hưng hoài, ninh bất trướng nhiên thán Tạo vật
chi lộng nhân, mỹ sở bất chí, nhi sinh vô cùng chi cảm
khái tai!)
(Ngọc Hân
công Chúa dật sự, Nam Phong Tạp chí, số 103, 1926)
Nhưng độc đáo hơn hết, phải kể
đến bản gia phả của họ Nguyễn hoàng tộc.
Đó là cuốn Hoàng Triều Ngọc Phả, bản quốc
ngữ, do Tôn Nhân Phủ biên soạn và ấn hành dưới
triều vua Thành Thái. Trong cuốn sách này, ở các
chương nói về Quảng Oai công và Thường Tín Quận
vương con vua Gia Long, rơ ràng mẹ đẻ của ngài
được ghi là Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Hiển
Tông nhà Hậu Lê. Thật là rơ ràng và chính xác như một cộng
một là hai, như hai cộng hai là bốn, không c̣n bàn căi
ǵ nữa cả. Người viết đă chính mắt
được đọc những ḍng chữ đó vào
năm 1988 tại nhà nhạc phụ, sách do ông Tôn Thất
Yên đưa cho mượn. Ông Tôn Thất Yên lúc bấy giờ
là người được hội đồng Nguyễn
Phước tộc ủy thác điều hành công việc
thường ngày của Hội đồng Nguyễn
Phước tộc ở Sài g̣n, và được hội
Trung Việt Ái hữu ủy thác trông nom quản lư nghĩa
trang G̣ Dưa, Thủ đức.
Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương là những
nhân vật có thật, tuy rằng Quảng Oai công yểu tử
và Thường Tín Quận vương ngày nay không có con cháu
nối ḍng, nhưng từ đường các ngài hiện
nay ở vùng ven đô Huế vẫn c̣n hương khói, các
bài phiên hệ thi về phần các ngài vẫn c̣n được
truyền tụng, v́ vậy việc gia phả hoàng tộc
do Tôn Nhân Phủ ấn hành ghi rằng mẹ đẻ các
ngài đích thị là công chúa Lê Ngọc Hân là một sự
kiện không thể không lấy làm trọng yếu hàng
đầu trong việc nghiên cứu chung cục của công
chúa Lê Ngọc Hân.
Vậy th́ vấn đề được đặt ra là
công chúa Lê Ngọc Hân có lấy vua Gia Long hay không. Nếu công
chúa Lê Ngọc Hân không lấy vua Gia Long th́ không c̣n có vấn
đề công chúa Lê Ngọc Hân được sách lập
làm Đệ Tam cung, cũng như không c̣n có sự kiện công
chúa Lê Ngọc Hân là mẹ đẻ các hoàng tử Quảng
Oai công và Thường Tín Quận vương. Mà chúng ta
đă biết địch xác là công chúa Lê Ngọc Hân chết
vào năm 1799, dưới triều vua Cảnh thịnh, khi
nhà Tây Sơn chưa mất ngôi, vậy th́ khi vua Gia Long tiến
quân vào thành Phú Xuân tháng 5 năm Tân Dậu, dương lịch
1801, th́ công chúa Lê Ngọc Hân đă mất trước
đó hai năm, h́nh hài đă nằm sâu dưới ḷng
đất lạnh, th́ làm sao sống lại kết duyên vợ
chồng với v́ vua chiến thắng. Bởi lẽ
đó, những câu chuyện thêu dệt chung quanh việc
công chúa Lê Ngọc Hân lại một lần nữa lấy
chồng vua là hoàn toàn không có căn cứ, là hoàn toàn sai sự
thật.
Nhưng c̣n cuốn ngọc phả bản quốc ngữ của
Tôn Nhân Phủ đă khẳng định công chúa Lê Ngọc
Hân là mẹ đẻ của Quảng Oai công và Thường
Tín Quận vương? Xin thưa ngay rằng cuốn gia phả
này là bản quốc ngữ, không phải bản hán văn,
lại không phải do Quốc sử quán biên soạn mà là
tác phẩm phiên dịch của Tôn Nhân Phủ từ bản
hán văn cũng của Tôn Nhân Phủ mà ra, mà bản hán
văn này th́ trong các chương nói về Quảng Oai công
và Thường Tín Quận vương đă viết rằng
mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển Tông nhà Hậu
Lê. Cái lối hành văn cổ điển bằng Hán tự
th́ có khi nào nêu rơ tục danh đâu. Mà tác giả bản Hán
văn khi viết rằng mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc,
con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, th́ đă chắc đâu muốn
khẳng định rằng đó là công chúa Lê Ngọc Hân.
Biết đâu tác giả bản Hán văn muốn nói đến
một nàng công chúa Lê Ngọc khác, cũng con vua Hiển tông
nhà Hậu Lê? Mà điều này th́ những người phiên
dịch ra quốc ngữ đă không hề hay biết, lại
thêm nặng t́nh tân học, viết lách tŕnh bày việc ǵ
cũng muốn tách bạch rơ ràng nên đă phiên dịch nhóm
chữ "Công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển tông" thành
"Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Hiển Tông" theo sở
kiến chủ quan của ḿnh.
Như vậy rơ ràng hai hoàng tử Quảng Oai công và Thường
Tín Quận vương, con vua Gia Long, đích thực là cháu
ngoại vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Chỉ v́ bản quốc
ngữ do sở kiến chủ quan của người
phiên dịch đă khẳng định mẹ đẻ hai
ngài là công chúa Lê Ngọc Hân thay v́ cứ để là công chúa
Lê Ngọc như nguyên bản hán tự, nên mới nảy
sinh ra điểm phi lư là người đă chết mấy
năm trước đó bây giờ c̣n đâu mà lại lần
nữa đi lấy chồng để rồi sinh đậng
hai con trai. Lại nữa cuốn Hoàng Triều Ngọc Phả
của Tôn Nhân Phủ là gia phả thành văn của Nguyễn
Phước tộc, là tài liệu chính thức về phả
hệ hoàng phái, không thể nào được trước
tác tùy tiện và thiếu chính xác được. Bởi vậy,
Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương
đích thực là cháu ngoại vua Hiển Tông nhà Hậu Lê,
mẹ là công chúa Lê Ngọc, nên trong gia phả mới ghi chép
rơ ràng như vậy. cũng không thể có trường hợp
thấy sang bắt quàng làm họ, thấy công chúa con vua lá
ngọc cành vàng bèn nhận càng là bên ngoại cho thêm phần
vẻ vang, bởi một lẽ giản đơn họ
Nguyễn cũng là đại quư tộc, đă ở ngôi
chúa Nam Hà ba trăm năm rồi, và hiện tại đang
giữ ngôi vua thống nhất thiên hạ.cho nên một khi
mà Hoàng Triều Ngọc Phả của Tôn Nhân Phủ đă
ghi chép như vậy th́ Quảng Oai công và Thường Tín
Quận vương con của vua Gia Long đích thực là
cháu ngoại vua Hiển tông nhà Hậu Lê. Nhưng nếu
đă khẳng định rằng mẹ đẻ của
Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương không
phải là công chúa Lê Ngọc Hân th́ đương nhiên phải
nêu vấn đề mẹ đẻ các ngài là công chúa con
vua, cũng đă có một đời chồng trước
là chồng vua, bây giờ lấy đời chồng hai là
vua Gia Long sinh hạ được hai hoàng tử. Mẹ
đẻ của các ngài quả là một nhân vật dị
thường đúng như lời truyền tụng của
nhân gian trong gần hai trăm năm nay:
Gái đâu
có gái lạ đời
Con vua lại lấy
hai đời chồng vua.
Con vua là con vua Lê Hiển tông nhà Hậu Lê. Hai đời chồng
vua th́ đời chồng vua trước là vua Cảnh Thịnh
nhà Nguyễn Tây Sơn, c̣n đời chồng vua thứ hai
là vua Gia Long, vua sáng nghiệp nhà cựu Nguyễn. Bà là công
chúa Lê Ngọc B́nh, công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, em
ruột công chúa Lê Ngọc Hân, là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh
Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, Đệ Tam cung vua Gia Long nhà cựu
Nguyễn, mẹ đẻ các hoàng tử Quảng Oai công
"sinh năm 1809" và Thường Tín Quận
vương "sinh năm 1810".
Thân thế và sự nghiệp hai bà Lê Ngọc Hân và Lê Ngọc
B́nh có nhiều điểm tương đồng, mà những
điểm tương đồng đó lại là những
điểm rất căn bản. Hai bà đều là công
chúa con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, hai bà đều sinh
trưởng ở ngoài Bắc, nghĩa là cả hai đều
là công chúa Đông đô. Lớn lên hai bà đều lấy chồng
trong Trung, chồng của hai bà đều là hoàng đế
nhà Nguyễn Tây Sơn, nghĩa là cả hai bà đều là
Hoàng hậu Phú Xuân. Do những điểm tương đồng
căn bản đó mà những câu chuyện truyền tụng
về cuộc đời hai bà đan kết vào nhau, theo với
không gian và thời gian mà dần dà thay đổi, để
rồi lẫn lộn với nhau, cuối cùng th́ chuyện
có thật về người này trở thành chuyện huyền
thoại của người kia. Nói rơ hơn, công chúa Lê Ngọc
Hân chỉ lấy chồng một lần, c̣n công chúa Lê Ngọc
B́nh, sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, mới được
vua Gia Long sách lập làm Đệ Tam cung, mới là người
phụ nữ lạ thường "con vua lại lấy
hai đời chồng vua".
Điều đáng lưu ư là chính sử nhà Cựu Nguyễn
không nói ǵ về công chúa Lê Ngọc B́nh, c̣n các sử liệu
liên quan đến nhà Nguyễn Tây Sơn th́ tất nhiên
dưới triều nhà cựu Nguyễn đă không
được lưu hành, tàng trữ. Lại nữa, sự
nghiệp của hai hoàng đế Quang Trung và Cảnh Thịnh
khác biệt nhau một vực một trời, cho nên sử
Tàu, sử ta trong Nam, ngoài Bắc, đâu đâu cũng nói
nhiều về vua cha mà ít khi đề cập đến
vua con, do đó mà có hệ luận tất yếu là những
ǵ liên quan đến vua cha th́ người đời đều
biết nhiều hơn những ǵ liên quan đến vua
con. Bản thân công chúa Lê Ngọc Hân cũng có nhiều
điểm sắc sảo lanh lợi hơn công chúa Lê Ngọc
B́nh, nhất là công chúa Lê Ngọc Hân đă thông Hán tự lại
c̣n giỏi quốc âm, nổi tiếng v́ bài Ai Tư Văn. Bởi
các lẽ đó mà từ trước đến nay chúng ta
chỉ nghe nói đến công chúa Lê Ngọc Hân mà không nghe ai
đề cập đến công chúa Lê Ngọc B́nh. Chỉ
từ sau năm 1975, ty thông tin Văn hoá Nghĩa B́nh ấn
hành và phổ biến một số tài liệu liên quan đến
thân thế và sự nghiệp các nhân vật đời Tây
Sơn, chúng ta mới bắt đầu chú ư các nhân vật
như Lê Ngọc B́nh, là công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu
Lê và là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh Nguyễn
Quang Toản.
Theo các tài liệu do ty Văn hóa Nghĩa B́nh công bố, vua Cảnh
Thịnh và công chúa Lê Ngọc B́nh đồng trang lứa với
nhau. Vua Cản Thịnh sinh năm 1783, đúng như Đại
Nam Chính Biên Liệt truyện và các phúc tŕnh của các giáo
sĩ Longer và Le Labousse gởi cho Phái bộ Truyền giáo Nam
Hà đă ghi chép. Như vậy, ngày công chúa Lê Ngọc Hân vầy
duyên cá nước với Tiết chế Nguyễn Huệ
(1786) th́ công chúa Lê Ngọc B́nh mới có 4 tuổi. Đến
năm Bính Ngọ (1792), vua Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh
lên nối ngôi, cả nhà vua lẫn công chúa mới được
10 tuổi. Thời gian này cả hai đang ở tuổi
trúc mă thanh mai. Những năm tiếp theo là những năm
Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền nên chắc chắn
là công chúa Lê Ngọc Hân dù đă có ư định vẫn
chưa thể thực hiện việc kết hợp sắt
cầm cho em gái với con chồng. Phải đợi
đến sau chính biến năm Ất Măo (1795), phe cánh Thái
sư Bùi Đắc Tuyên bị dẹp tan, công chúa Lê Ngọc Hân
mới có điều kiện thu xếp đưa em gái lên
ngôi Chính cung Hoàng hậu.
Lúc này, các bề tôi thân tín lục tục trở về triều,
công chúa Lê Ngọc Hân củng cố lại thế lực
trong chốn nội đ́nh và có ảnh hưởng quyết
định đến công việc triều đ́nh, th́
cũng là lúc công chúa Lê Ngọc B́nh vừa được 13
tuổi. Như vậy, công chúa Lê Ngọc Hân đối với
công chúa Lê Ngọc B́nh th́ vừa là chị ruột, vừa
là mẹ chồng. Cả hai đều là công chúa Đông đô
con vua Hiển tông nhà Hậu Lê. Cả hai đều trở
thành Hoàng hậu Phú Xuân, công chúa Lê Ngọc Hân là Bắc cung
Hoàng hậu của Thái tổ Vũ Hoàng đế, công chúa
Lê Ngọc B́nh là Chính cung Hoàng hậu của vua Cảnh Thịnh
Nguyễn Quang Toản. Đến năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu
Cảnh Thịnh thứ 7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, công
chúa Lê Ngọc B́nh vừa được 17 tuổi. Đến
năm Tân Dậu (1801), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ
9, kinh thành Phú Xuân thất thủ, vua Cảnh Thịnh chạy
ra Bắc hà không kịp mang theo gia quyến, th́ công chúa Lê Ngọc
B́nh chỉ có 19 tuổi, nếu tính tuổi theo lối ngày
nay th́ công chúa Lê Ngọc B́nh chỉ mới 18 tuổi mà thôi.
Chính vào thời điểm này Đại Nguyên súy Tổng Quốc
chính Nguyễn Phúc Ánh gặp công chúa Lê Ngọc B́nh và năm
sau, tức là năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn vương
lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, và sắc
phong công chúa Lê Ngọc B́nh là Đệ Tam cung, năm ấy công
chúa Lê Ngọc B́nh vừa tṛn 20 tuổi.
Tuy nhiên, vẫn c̣n một vấn đề cần nêu lên là
một sự kiện trọng yếu, rơ ràng và chính xác
nhường ấy mà tại sao chính sử nhà Nguyễn lại
không đề cập đến? Xin thưa ngay rằng các
sử thần nhà Nguyễn trước nay vẫn lược
qua không ghi chép những sự kiện lịch sử không
phù hợp với quan điểm chính thống của ư thức
hệ phong kiến phương Đông. Thí dụ rơ ràng nhất
là trường hợp Công nữ Ngọc Vạn con chúa Hy
Tông, gả làm Hoàng hậu cho vua Chân lạp Chey Chetta II vào
năm 1620, mở đầu việc chính quyền chúa Nguyễn
kinh dinh đất Prey Kôr, tức là Sài g̣n Chợ lớn sau
này. Sự nghiệp của Công nữ Ngọc Vạn ở
Cao Mên cũng như công trạng của Công nữ Ngọc
Vạn đối với dân tộc Việt Nam đem so
sánh với sự nghiệp và công trạng của Công chúa
Huyền Trân đời Trần th́ to lớn hơn nhiều
lần, thế mà chính sử nhà Nguyễn, v́ tinh thần tự
tôn dân tộc nghĩ rằng việc gả con gái cho người
nước ngoài là việc không đẹp, nên về thân thế
th́ ghi là "khuyết truyện", c̣n về sự nghiệp
th́ đă không chép được một câu.
Trong những trường hợp khác th́ sử thần nhà
Nguyễn giấu nhẹm những sự kiện lịch sử
mà luân lư phong kiến phương Đông cho là đi ngược
với đạo lư. Thí dụ như trường hợp
chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần là con chúa Vơ
Vương Nguyễn Phúc Khoát với một bà công nữ em
con chú con bác với chúa Vơ vương. Việc hợp hôn
như vậy theo quan điểm Á đông là loạn luân, bởi
thế chính sử nhà Nguyễn đă không đả động
đến chuyện đó, mặc dù sự kiện này vô
cùng trọng đại đối với tương lai
vương nghiệp nhà cựu Nguyễn, v́ đă mở
đầu cho việc chúa Vơ vương bỏ trưởng
lập thứ đưa đến việc Trương
Phúc Loan chuyên quyền và anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa,
khiến cơ nghiệp họ Nguyễn chút nữa th́ tiêu
vong, ḍng dơi họ Nguyễn chút nữa th́ tuyệt diệt.
Vậy th́ đă lại tái diễn việc chính sử nhà
Nguyễn lược qua không đả động đến
dữ kiện Hoàng đế Gia Long sách lập công chúa Lê Ngọc
B́nh con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, nguyên Chính cung Hoàng hậu
vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, làm Đệ Tam
cung. Lư do cũng vẫn là ư thức hệ phong kiến nho
giáo ràng buộc người phụ nữ vào tứ đức
tam ṭng, chồng chết th́ chết theo chồng hoặc ở
vậy chứ không được lấy chồng khác. Lư
do cũng vẫn là ư thức hệ phong kiến nho giáo ràng
buộc người nam nhi khi xuất khi xử luôn luôn phải
tuân thủ đạo nghĩa tam cương ngũ thường,
phân biệt minh bạch chính thống và tà ngụy. Bởi vậy,
sử thần nhà Nguyễn đă cho rằng chuyện công
chúa Lê Ngọc B́nh vốn là người cũ của Ngụy
Tây mà được sách lập làm Đệ Tam cung là chuyện
không đẹp, nên lược qua không đề cập
đến, thái độ này phản ánh dư luận
đa số các giới phong kiến nho sĩ
đương thời mà rơ nét nhất là những câu chuyện
truyền tụng về những lời lẽ của triều
thần can gián nhà vua.
Tuy nhiên, những lư lẽ phản bác rất chính đáng của
vua Gia Long cũng lại đă cho thấy ư chí không thể
lay chuyển trong quyết định sách lập công chúa Lê
Ngọc B́nh làm Đệ Tam cung. Hành động của vua Gia
Long không phải là hành động của con người
b́nh thường tiếc ngọc thương hoa, cho dù công
chúa Lê Ngọc B́nh có là công chúa con vua, trẻ đẹp, tuổi
tác chưa được hai mươi. Hành động của
vua Gia Long là hành động đă suy tính kỹ lưỡng,
không v́ t́nh nhi nữ nhỏ mọn ở chốn pḥng khuê mà
v́ quyền lợi tối thượng của phe nhóm, của
ḍng họ, của triều đ́nh, của chính nghĩa, của
quốc gia đại sự. Thật thế, vua Gia Long tuy
đă thống nhất đất nước, thu Nam Bắc
về một mối nhưng ḷng người Bắc hà vẫn
c̣n tưởng nhớ nhà Lê. Song song với việc thiết
lập cơ chế Bắc thành Tổng trấn, cho địa
phương được tự trị rộng răi,
cũng như song song với việc lục dụng con cháu
nhà Lê vào các cơ quan nhà nước, tùy tài khiển dụng
không phân biệt Nam Bắc, mới cũ, việc sách lập
một công chúa Bắc hà con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê vào một
địa vị tôn qúy ở chốn nội đ́nh là một
hành động tâm lư chiến sâu sắc của một chính
trị gia bậc thầy, một hành động có tính toán
kỹ lưỡng và khôn ngoan tuyệt cùng.
Tóm lại việc nhà vua Gia Long sách lập công chúa Lê Ngọc
B́nh, công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, Hoàng hậu vợ
vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, làm Đệ Tam cung
là một sự kiện lịch sử có thật rơ ràng và
chính xác, mặc dù chính sử nhà Nguyễn không đề cập
đến. Công chúa Lê Ngọc B́nh là em ruột công chúa Lê Ngọc
Hân. Cả hai đều là công chúa Đông đô, đều
được sắc phong Hoàng hậu Phú Xuân. Nhiều câu
chuyện truyền tụng trong dân gian đều thêu dệt
chung quanh cuộc đời hai bà đan kết vào nhau, lẫn
lộn vào nhau, thay đổi dần dà với thời gian
và không gian, và đặc biệt là không mấy ai biết
đến công chúa Lê Ngọc B́nh mà chỉ biết có công
chúa Lê Ngọc Hân thôi, nên cuối cùng, có nhiều chuyện
đời thực của bà này lại trở thành huyền
thoại về bà kia.
Vậy từ nay chúng ta hăy dứt khoát khẳng định
sự kiện công chúa Lê Ngọc Hân chỉ có một đời
chồng, và chung cục của bà vẫn là giàu sang tôn quư. Bà
là Bắc cung Hoàng hậu của vua Quang Trung, và bà đă chết
dưới triều vua Cảnh Thịnh, khi nhà Tây Sơn
chưa mất ngôi. C̣n người phụ nữ lạ
thường đă là công chúa con vua lại lấy hai đời
chồng vua là công chúa Lê Ngọc B́nh, em ruột công chúa Lê Ngọc
Hân. Công chúa Lê Ngọc B́nh là con vua Hiển tông nhà Hậu Lê,
có đời chồng thứ nhất là vua Cảnh Thịnh
nhà Nguyễn Tây Sơn và đời chồng thứ hai là
vua Gia Long nhà cựu Nguyễn, đúng như câu ca dao trong
dân gian vẫn c̣n truyền tụng đến ngày nay:
Gái đâu có
gái lạ đời
Con vua lại lấy
hai đời chồng vua.
Minh Vũ HỒ VĂN CHÂM
Giai phẩm Xuân TÂY SƠN Mậu Dần 1998
Source : www.lebichson.net
http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/tanman/2008/01/764572/
|
“Mỹ Tho
của ḿnh” – nỗi nhớ và mong muốn
|
|
11:56'
17/01/2008 (GMT+7)
|
|
QUỲNH LỆ
|
H́nh như trong
tôi lúc nào cũng âm thầm và bàng bạc một nỗi
nhớ về vùng đất có tên gọi Mỹ Tho.
Nỗi nhớ cứ lung linh theo năm tháng với
những kỷ niệm của cả quảng
đời làm học sinh tiểu học rồi trung
học thấm đẫm những t́nh cảm yêu
thương mộc mạc và trong trẻo của gia
đ́nh, người thân, bạn bè, thầy cô, làng xóm…
Những sợi nhớ mơ hồ ấy lặng
lẽ chảy trong huyết quản và có thể trổi
dậy mạnh mẽ khi có ai nhắc đến tên
Mỹ Tho. Nhất là vào tiết tháng Chạp, khi mọi
người xa quê đều hướng ḷng về quê
cũ...
Sáng nay, tôi
mở máy vi tính, vào trang Google, thử gơ “thành phố
Mỹ Tho” … và thật bất ngờ - trên mạng
internet đă xô lên 188.000 trang web có cụm từ ấy.
Thế là tôi lang thang trên mạng và lạc vào thế
giới “Mỹ Tho của ḿnh”.
1. T́m về
nguồn cội
|

|
|
Một góc
Mỹ Tho xưa (ảnh: lasanhoingo.com)
|
Thú thật, bao
nhiêu năm lớn lên, hít thở không khí thanh sạch và
êm đềm của Mỹ Tho, vậy mà tôi hoàn toàn vô
tư đến vô tâm không lưu ư chút ǵ về lịch
sử h́nh thành của thành phố nhỏ bên bờ sông
Tiền thơ mộng của ḿnh. Giờ đây, khi
đọc được những ḍng lịch sử
của Mỹ Tho, tôi thầm cảm ơn ông cha xưa
cùng những bậc tiền bối đă tạo
dựng, đă khai mở và định canh định
cư một vùng đất; cảm ơn những
người đă ghi lại, đă viết lại
những chuyển kể về một thời quá
khứ của Mỹ Tho qua những trang viết trên
mạng… Để hôm nay, tôi (và những lứa hậu
sinh) được đọc lại và làm cuộc hành
tŕnh t́m về nguồn cội.
Xin
được làm người nhặt nhạnh
những hạt giống quí ấy và xin được
chia sẻ với những ai đang muốn hiểu thêm
về Mỹ Tho:
- Mỹ Tho đại phố: “Vào
năm 1679, một nhóm khoảng ba ngàn người Minh Hương
được Chúa Nguyễn
cho định cư vùng đất mới này. Trong nhóm
có Dương Ngạn Địch
đứng ra lập Mỹ Tho đại phố ở
làng Mỹ Chánh, huyện Kiến Ḥa. Khu đại phố
này kéo dài đến Cầu Vĩ, G̣ Cát, tức khu vực
xă Mỹ Phong hiện nay.
Vào thế kỷ 17, Mỹ
Tho đă trở thành một trong hai trung tâm thương
mại lớn nhất Nam Bộ
lúc bấy giờ (trung tâm c̣n lại là Cù lao Phố, Biên
Ḥa)... Năm 1956, Chính quyền Việt Nam Cộng
ḥa lập lại tỉnh Định Tường,
giải thể thị xă Mỹ Tho, nhập địa
bàn vào xă Điều Ḥa. Ngày 30 tháng 9 năm 1970, Chính quyền
Việt Nam Cộng ḥa cải biến xă Điều Ḥa
thành thị xă Mỹ Tho, đến ngày 10 tháng 6 năm
1971, chia địa bàn thành 6 khu phố.
Cuối năm 1976, thị xă Mỹ
Tho được nâng lên thành thành phố Mỹ Tho, là
thành phố cấp 3. Và từ 2005 là đô thị loại
2”.
- Đường
sắt đầu tiên của Đông Dương: Sài G̣n -
Mỹ Tho. “Ngay sau khi xâm chiếm xong Việt Nam,
người Pháp đă hoạch định xây dựng
tuyến đường sắt đi các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long. Ư đồ ban
đầu của họ là xây dựng tuyến
đường sắt tiếp tới Phnom Penh, Campuchia.
Đầu năm 1881, chuyến tàu thuỷ đầu
tiên chở nguyên vật liệu từ Pháp sang xây
dựng tuyến đường sắt đă cập
cảng Sài G̣n. Vào giữa năm, công trường h́nh
thành với 11.000 lao động và có nhiều kỹ
sư từ Pháp sang. Công ty Eiffel trực tiếp thi công,
sau bốn năm, tuyến đường sắt Sài G̣n
– Mỹ Tho dài 70 km đă hoàn thành, tiêu tốn 11,6
triệu franc.
Tổng
cộng có 15 ga đă được xây dựng trên
tuyến. Điểm khởi đầu xuất phát
từ ga Sài G̣n và kết thúc tại ga Mỹ Tho nằm
sâu trong thành phố, sát cạnh chợ. Vị trí ga
Mỹ Tho được người Pháp lựa chọn
tạo nên đầu mối giao thông sắt - thuỷ -
bộ. Ngày 20-7-1885 chuyến tàu đầu tiên xuất
phát từ ga Sài G̣n - đánh dấu sự ra đời
của ngành đường sắt Việt Nam. Số
lăi thu được từ tuyến đường
sắt này tính đến năm 1896 là 3,22 triệu franc,
đến năm 1912 là hơn 4 triệu franc. Thập
kỷ 50 của thế kỷ 20, xe hơi phát triển
cùng với hệ thống đường bộ. Sau 73
năm tồn tại, năm 1958, tuyến đường
sắt này đă bị chính quyền Sài G̣n cũ cho
ngưng chạy tàu”.
2. Trong kư ức:
|

|
|
"Chiếc
áo bà ba trên ḍng sông..."
|
- “Xóm hát bội”: “Đối với
người trong nghề, xóm nghệ sĩ hát
bội ở phường 5, Mỹ Tho (trong con hẽm đối diện với
Trường Cao đẳng Sư phạm) - nổi
tiếng cả miền Nam. Đối với
người dân Mỹ Tho, sự tồn tại của
xóm hát bội trong suốt hơn 50 năm qua là một
sự hiện diện dành được nhiều
ưu ái, bởi nơi đây đă từng cung cấp
cho tỉnh Tiền Giang nhiều
thế hệ nghệ sĩ…
- Nhiều người
kể lại, xóm hát bội xưa chỉ toàn là nghệ
sĩ hát bội... Hiện nay, xóm hát bội có 2
“đoàn” hát bội là “đoàn” Hiệp Lợi và
“đoàn” Bảo Ân....Đào kép trong gánh chủ yếu
vẫn là những thành viên trong gia đ́nh. Cha truyền
con nối qua nhiều thế hệ, nghề ca hát đă
tồn tại trong những gia đ́nh này như một
cái nghiệp khó có thể dứt ra được…
Hiện tại, hát bội sống bằng những
buổi cúng chầu, cúng đ́nh; mỗi tháng nếu có
chầu th́ diễn khoảng 2 – 3 ngày...Hiện nay,
một thực trạng mà 2 nhóm hát bội Hiệp
Lợi và Bảo Ân đều gặp phải, đó là
không thể “thanh xuân hóa” đội ngũ diễn viên.
Tuổi đời trung b́nh của nhóm Bảo Ân lên
đến trên 45, ở nhóm Hiệp Lợi c̣n cao hơn.
Xóm hát bội bây giờ không chỉ toàn là nghệ sĩ,
một lớp hậu duệ không theo nghề hát bội
nữa… Làm sao để lớp trẻ có thể nh́n
thấy tương lai khi quyết định học
nghề, theo nghề mới chính là điều quan
trọng. Nều không th́ trong tương lai không xa, cái
tên “Xóm hát bội” ở phường 5, thành phố
Mỹ Tho này sẽ chỉ c̣n trong kư ức…”
- Bà
tôi: “Những tháng năm bần hàn, ba
mẹ tôi đă phải để bầy con dại
ở nhà với bà nội mà lênh đênh nghề
thương hồ với chiếc ghe bầu cũ kỹ.
V́ vậy, cái ǵ cũng một tay nội lo. Theo tiếng
vơng kẽo kẹt và những câu ru mộc mạc quê mùa,
theo bàn tay chăm sóc của bà nội, lũ chúng tôi
đă lớn lên như trái bầu trái bí trên giàn.
Đối
với tôi, bà nội là một kho tàng vô giá về sự
đời. Qua bà, tôi biết yêu cái thiện và ghét cái ác,
biết thương mến giúp đỡ những
người hoạn nạn và học được
sự lạc quan trước những khó khăn trong
cuộc sống, Dưới bóng mát của bà nội, tôi
như cây non vươn lên trong bầu trời rộng,
không quá cứng cáp vượt trội nhưng cũng
không quá ươn yếu xanh xao.
Tôi
vẫn nhớ bài học thuộc ḷng năm học
lớp một: “Bà ơi cháu rất yêu bà. Đi đâu bà
cũng mua quà về cho. Hôm qua có chiếc bánh ḅ, bà chia cho
cháu phần to nhất nhà…”. Khi ấy, tôi vẫn nghĩ
tác giả bài thơ đang tả về bà nội
của tôi ...Cho đến bây giờ, thỉnh thoảng
trong giấc mơ, tôi vẫn mơ thấy nội, tôi
vẫn mơ lại những ngày tháng lẫm đẫm
đi dưới bóng mát chở che của bà nội… Và
khi tỉnh dậy, nước mắt c̣n ướt
đầm trên mắt".
Vâng,
với một tâm trạng bùi ngùi thương tiếc
tôi đă đọc một hơi và “chép” một
mạch những bài viết gắn với Mỹ Tho, về
cái đă thuộc về quá khứ - như tuyến
đường sắt xưa nhất Đông
Dương – chứng minh Mỹ Tho xưa là trung tâm
của vùng đồng bằng sông Cưu Long và có
khả năng nối kết kinh tế qua tuyến
đừơng sắt các nước bạn; về cái
sắp lùi vào dĩ văng như gánh hát bội ... Và trong
những điều xưa cũ ấy tôi chợt
nhớ tới bà nội của tôi - một cổ
vật quí báu đă thuộc về kư ức. H́nh bóng
của bà nội với những ngày tôi c̣n bé tẹo
ở xóm Đ́nh Điều Hoà, phường 2, là
những h́nh ảnh lấp lánh gắn liền với
nỗi nhớ Mỹ Tho trong tôi:
3. Nỗi
nhớ và mong muốn
- “Thành phố
Mỹ Tho rất nhỏ, chỉ cần hơn một giờ
thôi th́ ḿnh có thể chạy xe đạp quanh thành
phố rồi. Thảo yêu hàng me già, yêu cành phượng
vỹ , yêu cái Giếng Nước , yêu từng con
đường, góc phố của Mỹ Tho... Cây
cầu Quay đă sống với Mỹ Tho hơn 100
năm từ hồi thời Pháp xây nó cho đến giờ
mới được sửa chữa lại.
Gió mát lồng lộng thổi từ con sông Tiền vào
thành phố , Thảo đứng dang hai tay ra, nhắm
mắt lại. Thảo yêu thích con sông Tiền , Thảo
thích lắng nghe tiếng sóng vỗ vào bờ, ngắm
nh́n những đôi nhân t́nh dạo chơi quanh vườn
hoa Lạc Hồng. Thảo nh́n sang bên kia cồn Tân Long ,
ước ǵ Thảo có đôi tay dài để kéo cái
cồn kia sát bên này...
Mỹ Tho là miền đất rất được
ưu đăi của thiên nhiên , trái cây đủ loại
không thiếu thứ ǵ. Ở Mỹ Tho có nhiều
cồn như cồn Tân Long , cồn Phụng... Cồn
là mảng đất nổi lên giữa sông do phù sa
bồi đắp....Nói đến cá tôm th́ ở Mỹ
Tho cá nhiều lắm , hễ nơi nào có nước là
có cá...”
Nếu bạn
là dân gốc Mỹ Tho, chắc chắn bạn sẽ có
cảm t́nh với một cô gái tên Thảo từ
nước Anh xa xôi đă viết những ḍng cảm
xúc “trên mạng” như thế. Chắc chắn cô gái
ấy là dân Mỹ Tho chính cống, mới có thể miêu
tả Mỹ Tho vừa mộc mạc chuẩn xác
vừa ngồn ngộn t́nh cảm như thế.
- “Nguyễn Đ́nh
Chiểu, Lê Ngọc Hân là 2 trường Trung Học
lớn và lâu đời nhất Mỹ Tho. Trường
Nguyễn Đ́nh Chiểu được coi là một
trường trung học có mặt sớm nhất trên
mảnh đất đồng bằng sông Cửu Long
(thành lập năm 1879 dưới thời Pháp thuộc,
cách đây 128 năm) và là nơi đào tạo khá
nhiều nhân tài cho miền Nam... Vào sáng Chủ Nhựt,
26 tháng 8 năm 2007, tại nhà hàng Grand Garden (Westminster, CA,
Hoa Kỳ) đă có cuộc họp mặt khoảng 500
người giữa thầy và cựu học sinh
của hai trường Trung Học Nguyễn Đ́nh
Chiểu và Lê Ngọc Hân để kỷ niệm 50
năm thành lập trường Nữ Trung Học Lê
Ngọc Hân Mỹ Tho (26/08/1957-26/08/2007)...”
Lại
những trang web khác viết về Mỹ Tho. Có rất
nhiều trang web hải ngoại viết nhắc
đến Mỹ Tho. Có biết bao lứa học sinh
lớn lên từ hai mái trường nổi tiếng
nhất Mỹ Tho ấy, bây giờ phiêu bạt bốn
phương. Có rất nhiều người công thành danh
toại, cũng có người c̣n vất vả gian nan,
nhưng trong ḷng vẫn đong đầy những
kỷ niệm về trường xưa, bạn cũ
và với những điều mong muốn tốt
đẹp về thành phố Mỹ Tho.
- “Mỹ Tho đă
có thêm trường Cao Đẳng Sư Phạm Tiền
Giang, Trung tâm Giáo dục Thường xuyên Tiền Giang, trường
Đại học Tiền Giang...”
- “Mời
bạn đến với Tiền Giang, nơi sinh ra
đờn ca vọng cổ. Hăy tham quan và thưởng
thức hương vị của hủ tiếu Mỹ
Tho, bánh giá Chợ Giồng, mắm c̣ng cù lao Tân
Thới,,, Tiền Giang, khí hậu thuận ḥa, cây lành
trái ngọt và những người dân thật thà, chân
chất,,,, Hăy một lần tận hưởng không khí
trong lành giữa thiên nhiên với màu của trời, hương
của đất, vị của cây, cái t́nh của ḷng
người b́nh dị. Tiền Giang luôn chào đón các
bạn.”
- “Mỹ Tho
đă hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể về kinh
tế - xă hội và quy hoạch (điều chỉnh)
chung về xây dựng đến năm 2020 và hiện
đang tiến hành quy hoạch chi tiết cho các ngành,
lĩnh vực khác. Đây là cơ sở cho việc
định hướng phát triển thành phố
nhằm giúp cho Mỹ Tho giữ được vai tṛ
trung tâm của tỉnh Tiền Giang và khu vực
Đồng bằng Sông Cửu Long...”
Từ
Mỹ Tho hôm nay nh́n về phía tương lai, có thể
thấy rằng, về quy hoạch tổng thể,
những lĩnh vực văn hoá – giáo dục – du
lịch, những hoạt động kinh tế - xă
hội của Mỹ Tho đều đă
được các cấp chính quyền và người
dân quan tâm thực hiện, với mục đích: “giữ
được vai tṛ trung tâm của tỉnh Tiền
Giang và khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long”.
Trong nền kinh tế thị trường giai
đoạn hội nhập thế giới, để
đạt được mong muốn đó, th́ bên
cạnh việc giữ ǵn và tôn tạo những di
sản văn hoá vật thể và phi vật thể
từ bao đời, Mỹ Tho cần tự rèn
luyện và nâng cấp nguồn nhân lực, cần
năng động hơn nữa, mạnh dạn
tiếp cận những cái mới mẽ hiện
đại hơn nữa... Và c̣n phải biết tập
họp lực lượng, huy động chất xám và
chất xanh từ những người xa xứ, bà con
kiều bào gốc Mỹ Tho – bởi họ luôn nặng
ḷng với quê nhà và luôn mong muốn “Mỹ Tho của
ḿnh” ngày một đẹp hơn, phát triển hơn,
hoàn thiện hơn một cách bền vững.
Q.L
(1/2008)
|
|
http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=219
Nguyễn
Đ́nh Chiểu - 阮庭沼
Thơ » Việt Nam » Nguyễn Đ́nh Chiểu

» Hiện danh sách 1
người yêu thích
- hdcadmin
» Hiện danh sách 1 bài viết liên quan
tới tác giả Nguyễn Đ́nh Chiểu trong Thư viện bài
viết
- Văn bản
Lục Vân Tiên, những đính chính từ góc độ
ngôn ngữ và văn hóa ((Không rơ))
» Hiện tiểu sử tác giả
Nguyễn Đ́nh Chiểu 阮庭沼 (1822-1888)
tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ (sau khi mù
lấy hiệu Hối Trai), sinh ngày 12, tháng 5, năm Nhâm
ngọ (1822), ở làng Tân Khánh, tổng B́nh Trị
thượng, huyện B́nh Dương, phủ Tân B́nh,
tỉnh Gia Định. Cụ mất ngày 24 tháng 5, năm
Mậu Tư (1888) ở làng An Đức, tổng Bảo An,
quận Ba Trị, tỉnh Bến Tre.
Cha là Nguyễn Đ́nh Huy, mẹ là Trương Thị
Thiệt. Ông là con cả của bà Thiệt, tuy vậy
thuộc ḍng thứ của ông Huy. Ḍng chính của ông Huy
với bà Phan Thị Hữu có 2 con: Đ́nh Lân và Thị Phu.
Bà họ Trương có 7 con: các em của ông Đ́nh
Chiểu là Thị Thục, Thị Nữ, Thị Thành,
Đ́nh Tựu, Đ́nh Tự, và Đ́nh Huân.
Ông đỗ tú tài trong kỳ thi hương 1843 tại Gia
Định. Năm 24 tuổi ông ra Huế để thi
hội dọc đường nghe tin mẹ mất (10.12.
1848) ông phải trở về cư tang. Trên
đường về ông bị bệnh, mù hai mắt. Ông
học được nghề thuốc từ thầy
thuốc Trung. Năm sau về đến nhà ông dạy
học, sĩ tử rất đông.
Truyện Lục Vân Tiên và Dương từ
hà mậu có lẽ được làm ra trong thờ
kỳ này. Trong đám học tṛ, có Lê Tăng Quưnh, kính yêu và
cám cảnh của thầy "Đồ Chiểu",
đă xin cha mẹ gả em gái của ḿnh là Lê thị
Điền cho thầy.
Năm 1858, Pháp chiếm thành Gia Định, ông phải
về quê vợ ở Cần Giuộc, Chợ Lớn.
Truyện Ngư tiều vấn đáp có lẽ
được làm ra trong giai đoạn này.
Năm 1861, Pháp chiếm Cần Giuộc, ông trôi nổi
tới Ba trị xa xôi hẻo lánh. Năm 1867, cụ Phan
Thanh Giản tuẫn tiết cũng là năm truyện Lục
Vân Tiên được in ra bằng chữ quốc
ngữ do tay một người pháp là G. Janeau sao lục và
chú thích. Cụ cũng như đa số văn nhân
thời ấy không thích chữ quốc ngữ.
Năm 1883, tham biện chủ tỉnh Bến Tre,
đến viếng tiên sinh để cầu nhuận chính
bản Lục Vân Tiên, khi về có ghi vào báo L'Independant
de Saigon (1883):
"Cụ Đồ Chiểu nằm trên giường v́
đang cơn bệnh nặng. Người ta đă lén tôi
mà cho cụ hay trước sự tôi đến, nên cu
muốn chỗi dậy tiếp tôi. Biết thế, tôi bèn
đi thẳng vào buồng cụ th́ vừa khi cụ
bước ra pḥng khách, có hai người d́u đỡ.
Cụ đồ là một ông già cao lớn, đẹp
đẽ, gương mặt trầm tĩnh xanh xao,
đầy vẻ cao nhă. Lời nói của cụ rất
thanh tao trôi chảy và tôi nghe cụ được rơ ràng
đầy đủ. Về phần tôi th́ khác hẳn,
cụ không nghe đặng tôi v́ cụ đă điếc.
Chỉ có đôi ba người quen gần cụ là có
thể nói cho cụ nghe hiểu. Sau câu chuyện về
sức khoẻ của cụ, tôi đề cập
đến việc quan trọng của tôi nhưng không hi
vọng thành công. Cụ Đồ Chiểu tỏ thật
với tôi rằng sức khoẻ và trí nhớ của
cụ đă giảm, thêm phần khó cho cụ trong việc
nhuận chính bản thơ Lục Vân Tiên. Tôi bèn bàn
với cụ để cho những người đă quen
với cái thính quan của cụ ngâm thơ Lục Vân Tiên
theo một bản in của người Tàu, rồi cụ
chỉ những câu thừa nên bỏ, những câu trật
nên sửa và những câu bị bớt nên thêm vào. Cụ
nhận làm cái công việc nhọc nhằn ấy.
Rồi tôi tặng cụ một quyển Lục Vân Tiên
chữ Nôm rất đẹp. Cụ muốn cảm ơn
tôi theo lễ tục Việt Nam. Tôi bèn nhờ người
nói lại rằng giữa cụ và tôi không nên giữ
lễ, tôi c̣n trẻ, không dám làm phiền cụ điều
chi hơn là xin cụ đối đăi với tôi như
một bậc lăo thành thông thái tiếp một người
bạn ngoại quốc rất hâm mộ cụ.
Giao kết xong rồi, tôi tiếp tục hầu chuyện
cùng cụ. Thật cụ là một tinh thần thanh cao và
rất mực khiêm tốn. Cụ nói với tôi rằng
cụ rất đỗi ngạc nhiên mà thấy ngày nay
người ta để ư tới cụ; và trước khi
tôi nói với cụ điều ǵ (vả lại
điều đó tôi cũng không muốn nói), cụ đă
hiểu ư. Cụ bảo tôi rằng cụ lấy làm vinh
hạnh được người đời chú trọng
tới văn phẩm của cụ và chiếu cố
tới thân phận cụ. Ngoài ra cụ khước từ
tất cả các món tưởng lệ bằng tiền
bạc. Đời sống của cụ cũng
đầy đủ và chút thanh danh mà người
đời bao quanh tên tuổi của cụ cũng
đủ làm cho cụ thỏa măn rồi."
Dương
Từ - Hà Mậu 
Lục
Vân Tiên 
|
1. Hồi 01: Vân Tiên
tạ thầy xin về đi thi (câu 1 - 76)
|
8. Hồi 08: Vân Tiên
từ biệt Vơ công, Thể Loan. Lên đường ra
kinh thi, gặp: Vương Tử Trực, Trịnh Hâm,
Bùi Kiệm (câu 419 - 552)
|
15. Hồi 15: Nguyệt
Nga nhân có Lục ông, Kiều công mời qua, nghe tin Vân Tiên
mất, buồn rầu khóc than (câu 1265 - 1360)
|
|
2. Hồi 02: Vân Tiên lên
đường gặp lũ sơn đài (câu 77 - 136)
|
9. Hồi 09: Vân Tiên
được tin mẹ chết, quày quả trở
về (câu 553 - 846)
|
16. Hồi 16: Thái sư
đi nói Nguyệt Nga cho con không được, nên oán mà
xin vua đ̣i đi cống Hồ bên nước Ô Qua (câu
1361 - 1486)
|
|
3. Hồi 03: Vân Tiên
cứu Kiều Nguyệt Nga (câu 137 - 236)
|
10. Hồi 10: Trịnh
Hâm hại Vân Tiên, trói tiểu đồng trong rừng, xô
Vân Tiên xuống sông (câu 847 - 944)
|
17. Hồi 17: Nguyệt
Nga nhảy xuống sông, nhờ Quan Âm đem vô bờ; vào
vườn gặp Bùi ông đem về nuôi, bị Bùi
Kiệm dỗ ngon dỗ ngọt (câu 1487 - 1636)
|
|
4. Hồi 04: Nguyệt
Nga về Hà Khê (câu 237 - 286)
|
11. Hồi 11: Ngư ông
vớt Vân Tiên lên, đem về nhà Vơ công (câu 945 - 1018)
|
18. Hồi 18: Nguyệt
Nga trốn họ Bùi, lăo bà gặp đem về nuôi (câu
1637 - 1664)
|
|
5. Hồi 05: Vân Tiên
đi thi (câu 287 - 308)
|
12. Hồi 12: Vơ công
giả đưa về Đông thành, đem Vân Tiên bỏ
trong hang Thương ṭng (câu 1019 - 1076)
|
19. Hồi 19: Vân Tiên
nhờ thuốc tiên sáng mắt, bỏ chùa, giă từ
Hớn Minh về thăm cha (câu 1665 - 1736)
|
|
6. Hồi 06: Vân Tiên
để Hớn Minh đi trước, ḿnh về
thăm nhà đă (câu 309 - 330)
|
13. Hồi 13: Du
thần cứu ra khỏi hang, gặp lăo tiều cơng Vân
Tiên về nhà (câu 1077 - 1118)
|
20. Hồi 20: Vân Tiên ra
kinh thi đậu trạng nguyên. Vua sai đi dẹp
giặc Ô qua với Hớn Minh (câu 1736 - 1802)
|
|
7. Hồi 07: Vân Tiên ra
đi thi. Ghé nhà Vơ công gặp bạn (câu 331 - 418)
|
14. Hồi 14: Hớn
Minh đem Vân Tiên về chùa (câu 1119 - 1264)
|
21. Hồi 21: Vân Tiên
gặp Nguyệt Nga, về tâu vua. Ơn đền, oán
trả rồi về vinh qui cưới nàng Nguyệt Nga
(câu 1803 - 2076)
|
Ngư
Tiều y thuật vấn đáp 
|

|
Điếu Phan Thanh
Giản 
|

|
|
|
|
|
|

|

|

|

|

|
|

|

|

|
|
|
Non nước tan tành hệ bởi đâu
Dàu dàu mây bạc cơi Giao Châu
Ba triều công cán đôi hàng sớ
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu
Trạm bắc ngày trông tin nhạn vắng
Thành nam đêm quạnh tiếng chim sầu
Minh tinh chín chữ ḷng son tạc
Trời đất từ đây mịt gió thu
Diễn
đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/
|
|
|

|

|

|
|

|

|

|

|

|
|

|
Chạy Tây 
|

|
|
|
|
|
|

|

|

|

|

|
|

|

|

|
|
|
Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dát bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây
Hỏi trang dẹp loạn này đâu vắng ?
Nỡ để dân đen mắc nạn này!
Diễn
đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/
|
|
|

|

|

|
|

|

|

|

|

|
|

|
Từ biệt
cố nhân 
|

|
|
|
|
|
|

|

|

|

|

|
|

|

|

|
|
|
V́ câu danh nghĩa phải đi ra,
Day mũi thuyền nan dạ xót xa,
Người dễ muốn chi nương đất
khách,
Trời đà khiến vậy mến vua ta.
Một phương thà tránh đường gai gốc,
Trăm tuổi cho tṛn phận tóc dạ
,
Nhớ nhau ngày khác biết sao mà.
|
|
|
Có bản chép: "Chén
rượu đỏ ḷng xin cạn chén".
|
Diễn
đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/
|
|
|

|

|

|
|

|

|

|

|

|
|

|
Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc 
|

|
|
|
|
|
|

|

|

|

|

|
|

|

|

|
|
|
Hỡi ơi! Súng giặc đất
rền; ḷng dân trời tỏ.
Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt c̣n
danh nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng
vang như mơ.
Nhớ linh xưa:
làm ăn;
Toan lo nghèo khó.
...
»
Xem toàn bộ bài thơ
|
|
|
Cui cút làm ăn có nghĩa là
làm ăn lẻ loi, thầm lặng một cách tội
nghiệp.
|
|
|
|
Chỗ đánh nhau.
|
|
|
|
Làng xóm (có bản chép: làng
hộ).
|
|
|
|
Thứ mộc h́nh tṛn
đan bằng mây dùng để đỡ mũi giáo
đối phương lúc xung trận.
|
|
|
|
Lấy ở câu "phong
thanh hạc lệ, thảo mộc giai binh",
nghĩa gốc là nói sự hồi hộp lo lắng,
nghe tiếng gió thổi hạc kêu, thấy cây cỏ
cũng tưởng là giặc đuổi đánh. Ở
đây, "tiếng phong hạc" có nghĩa là tin
kẻ địch đến.
|
|
|
|
Tanh hôi, chỉ bọn
thực dân Pháp.
|
|
|
|
Dây dính bậy bạ.
|
|
|
|
Giống cây dây leo có
nhiều râu (tay leo). Ở đây chỉ những lều
và buồm vải có nhiều dây của quân Pháp.
|
|
|
|
Cỗ xe và chữ viết,
do chữ "xa đồng quỹ, thư
đồng văn", nghĩa là xe cộ cùng
một đường (quỹ: dấu xe đi), sách
viết cùng một thứ chữ, ư nói sự thống
nhất hoàn toàn.
|
|
|
|
(lấy tích Lưu Bang
cướp ngôi nhà Tần) đến chiếm
cướp. Cả vế "một mối ...
đuổi hươu" có nghĩa: đất
nước ta là một khối thống nhất vĩ
đại, không thể nào để kẻ nào
đến chiếm cướp.
|
|
|
|
Các loại đơn
vị quân đội thời phong kiến.
|
|
|
|
Ḍng dơi cha ông.
|
|
|
|
Luyện tập việc
binh.
|
|
|
|
(chiêu: vời, mời;
mộ: cầu, t́m) tuyển trên cơ sở tự
nguyện.
|
|
|
|
Bao đựng kiếm.
|
|
|
|
Bầu đựng ng̣i
thuốc nổ.
|
|
|
|
Dao dài lưỡi.
|
|
|
|
Nón của người lính
ngày xưa.
|
|
|
|
Mồi lửa để
bắn súng (ngày xưa).
|
|
|
|
Theo tiếng Malaysia là cảnh sát.
|
|
|
|
Lính của Tây Ban Nha mộ
ở Philippin (Mani: thủ đô Philippin).
|
|
|
|
Bọn, lũ: ngày
trước chỉ có nghĩa là nhiều người,
ít có nghĩa là coi thường. Ở đây là chỉ
các nghĩa quân.
|
|
|
|
Xác của con người
trần tục.
|
|
|
|
Hạnh là may, ư nói may
được cứu sống. quy: về, ở đây
là chết.
|
|
|
|
Một nghĩa sĩ
thời Chiến Quốc không thoả được chí
ḿnh, trước khi chết, dặn con treo gươm
trên mộ để tỏ chí khí.
|
|
|
|
Thuộc Cần Giuộc.
|
|
|
|
(hiệu: hết sức)
làm hết sức để chuộc tội, hoặc có
tội phải đi làm những việc nguy hiểm
để chuộc tội.
|
|
|
|
(tài: trồng cây, bồi:
vun thêm) vun đắp.
|
|
|
|
Đạo bất chính,
ở đây là chỉ đạo Giatô. Bấy giờ
bọn cướp nước lợi dụng
đạo Giatô để chia rẽ nhân dân ta và
mượn cớ đi truyền đạo để
do thám. Các chí sĩ của ta chưa nhận rơ đâu là
kẻ theo địch, đâu là người theo
đạo nên chủ trương bài đạo nói chung.
|
|
|
|
B́nh hương.
|
|
|
|
Bàn thờ tổ tiên.
|
|
|
|
Tinh thần chống
lại kẻ ḿnh căm giận.
|
|
|
|
Ông nội, người sinh
ra cha. Ở đây chỉ tổ tiên, ông cha nói chung.
|
|
|
|
Mọi rợ, ở đây
chỉ bọn giặc Pháp.
|
|
|
|
Một ngôi chùa ở
Chợ Lớn (có bản chép: Tôn Hạnh).
|
|
|
|
Phải chịu.
|
|
|
|
Vất vơ, vất
vưởng.
|
|
|
|
Chữ Hán là "xích
tử", trẻ con mới đẻ c̣n đỏ
hỏn. Nghĩa bóng là nhân dân (cần được
chăm sóc như chăm sóc đứa trẻ mới
đẻ).
|
|
|
|
Được, muốn
được.
|
|
|
|
Phải hiểu là
nước mắt khóc người anh hùng.
|
|
|
|
Dân của trời.
|
|
|
|
Đất của vua.
|
Diễn
đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/
|
|
|

|

|

|
|

|

|

|

|

|
|

|
Văn tế
nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh 
|

|
|
|
|
|
|

|

|

|

|

|
|

|

|

|
|
|
Hỡi ôi!
Tủi phận biên manh;
Căm loài dương tặc.
Ngoài sáu tỉnh hăy ngợi câu án đổ, dân nhờ vua
đặng lẽ sống vui;
Trong một phương sao mắc chữ lục
trầm, người v́ nước rủ nhau chết
ngặt!
Nhớ các linh xưa:
...
»
Xem toàn bộ bài thơ
Diễn
đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/
|
|
|

|

|

|
|

|

|

|

|

|
|

|
Xúc cảnh 
|

|
|
|
|
|
|

|

|

|

|

|
|

|

|

|
|
|
Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng ,
đâu hỡi, có hay
không ?
Mây giăng trông tin nhạn,
Ngày xế bặt tiếng
hồng.
Bờ cơi xưa đà chia đất khác,
Nắng mưa nay há đội trời chung.
Chừng nào ân soi thấu,
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.
|
|
|
Gió từ phương
đông tới, tức gió mùa xuân.
|
|
|
|
Mùa xuân đưa lại
sức sống mới cho muôn loài, cho con người. Do
đó nó được gọi là Chúa xuân. Ở đây ư
nói Tổ quốc độc lập (v́ Tổ quốc
độc lập th́ mọi người dân có hạnh
phúc).
|
|
|
|
Ải vốn có nghĩa
chỗ đất hiểm trở, chật hẹp,
quạnh hiu. Ải cũng có nghĩa chỗ giáp giới
giữa hai nước. Ở đây, ải bắc có nghĩa
là phương bắc xa xôi.
|
|
|
|
Núi ở phương nam.
Ở đây, non nam là phương nam (cũng có thể
nói là Nam Bộ lúc này đă bị chiếm đóng hoàn
toàn).
|
|
|
|
Vị vua đáng tôn kính.
Trong điều kiện ư thức hệ phong kiến c̣n
thống trị, Nguyễn Đ́nh Chiểu không thể
không nói đến thánh đế, nhưng đó là
vị vua lư tưởng mà ông ước mơ.
|
Diễn
đàn cổ thi Mặc Hương: http://machuong.thivien.net/
|
|
|

|

|
|
http://luongsonbac.com/forum/showthread.php?t=134257667
|
Ngọc Hân Công Chúa [center:eb728da105](1770-1803)
[/center:eb728da105]
Tục gọi là Chúa Tiên. Con gái út của vua Lê Hiển
Tôn (1740-1786). Năm Bính Ngọ (1786) lấy chồng,
tức là Bắc B́nh Vương Nguyễn Huệ và
được phong làm Bắc Cung hoàng hậu (1788). Bà
rất thông kinh sử, thạo âm
luật và sành văn quốc âm.
Năm Nhâm Tư (1792) Bắc B́nh Vương Nguyễn
Huệ tức vua Quang Trung mất, ở với
chồng được 7 năm, bà sinh được
một trai và một gái.
Nhà Tây Sơn đổ, bà cùng hai con vào sống lẩn
lút ở tỉnh Quảng Nam, được ít lâu, có
người điềm chỉ chỗ bà ở cho vua nhà
Nguyễn, bà và hai con bị bắt và bị giết.
Tương truyền, bà có làm rất nhiều thơ
văn bằng quốc âm, nay phần nhiều
đều bị thất lạc chỉ c̣n sót lại
hai áng văn , ngầm chưá lời lẽ rất
thống thiết, bày tỏ tấm ḷng của
người vợ đớn đau thương
nhớ chồng. Đó là bài " Văn tế vua Quang Trung
" và " Ai tư văn ", tức là : " Khóc vua
Quang Trung ". Sau đây là nguyên văn của bài " Ai
Tư Văn " :
Than rằng :
Chín từng ngọc sáng bóng trung tinh, ngoài muôn nước
vừa cùng trồng vẻ thụy ;
Một phút mây che vừng Thái Bạch , trong sáu cung
thoạt đă lạc hơi hương.
Tơ dứt tấc ḷng ly biệt, Châu sa giọt lệ
cang thường.
Nhớ phen bến Nhị thuận buồm, hội bái
việt chín châu
lừng lẫy:
Vừa buổi cầu ngân sẵn nhịp, đoạn
ỷ la đôi nước rơ ràng.
Hôn cấu đă nên nghĩa cả,
Quan san bao quản dặm trường
Nhờ lượng trên cũng muốn tôn Châu, t́nh thân
hiếu đă ngăn chia đôi nước ;
Song thế đă trót đà về Hớn, hội hỗn
đồng chỉ cách trở một phương ,
Ḷng dẫu xót thấy cơn cách chách,
Thân lại nhờ gặp hội hưng vương.
Thành Xuân theo ngọn long kỳ, đạo tề trị
gần nghe tiếng ngọc ;
Cung Hữu rạng màu địch phất, t́nh ái ân muôn
đội nhà vàng.
Danh phận ấy cậy vun trồng mọi vẻ,
Nề nếp xưa nhờ che chở trăm
đường,
Ơn sâu nhuần gội cỏ cây, chốn lăng
tẩm chẳng phạm chồi du tữ ;
Lộc nặng thơm thơ hương khói, nơi
miếu đường nèo khuyết lẻ chưng
thường.
Mọi nỗi mọi nhờ trọn vẹn.
Một điều một được vẻ vang.
Pháp hằng ǵn hạc thược tước thoa,
buồng quế rạng khuôn nội tắc ;
Điềm sớm ứng chung tư lân chỉ, phát Lam thêm
diễn thiên hoàng.
Mảy chut' chưa đền đức cả,
Gót đầu đều trọn ơn sang.
Đền Vị Ương bóng đuốc bừng
bừng, ḷng cần miễn vừa khi gióng giả ;
Miền cực lạc xe mây vùn vụt, duyên hảo
cầu sao bỗng dở dang !
Ôi !
Gió lạnh buồng đào, rơi cầm nẩy
sắt.
Sương pha cung đỏ, hoen phấn mờ
gương.
Tiệc vầy vui nhớ hăy rành rành, dịp ca múa
bỗng khuây chừng Thần Ngự ;
Buổi chầu chực tưởng c̣n phảng
phất, chuông điểm hồi sao vắng chốn
Cảnh Dương.
Vấn tí mấy, bảy năm kết phát ,
Đau đớn thay, trăm nỗi đoạn
trường.
Hé nhà sương ngắm quyển cung châm, tiếng chỉ
phất hăy mơ màng trên gối ;
Nương hiên nguyệt ngẫm lời đ́nh chỉ,
bóng thúy hoa c̣n nhấp nháng bên tường.
Hang núi cũng phàn nàn đ̣i chốn ;
Cỏ hoa đều sùi sụt mấy hàng.
Liều trâm thoa mong theo chốn chân du, da tóc trăm thân
nào có tiếc ;
Ôm cưỡng bảo luống ngập ngừng di
thể, sửa măng đôi chút lại thêm
thương.
Tiếc thay !
Ngày thoi thấm thoát;
Bóng khích vội vàng.
Thuyền ngự tỏa đă ngang gành Thái Thủy.
Nẻo hoàng tuyền xa cách mấy trùng, ngao ngán thêm
ngừng cơn biệt duệ.
Chén hoàng thủy kính dâng một lễ,
Xét soi xin thấu cơi dương gian.
Ngọc Hân Công Chúa.
|
|
|
|

|
|
LSB-KiepThuyDu
|
|
Xem Lư Lịch
|
|
Gửi tin nhắn tới LSB-KiepThuyDu
|
|
Ghé
thăm Homepage của LSB-KiepThuyDu!
|
|
T́m thêm bài của LSB-KiepThuyDu
|
|
10-03-2003
|
#2
|
|


|
|

Nhiều sách đă cho rằng sau khi dẹp
được Tây Sơn, vua Gia Long đă cưới
Ngọc Hân làm vợ. Tiểu đệ có đọc
cuốn "Một Thời Hoàng Tộc" của
Mệ Bảo Thái là hậu duệ thứ tám của vua
Minh Mạng. Theo Mệ Bảo Thái, chính miệng
những người thuộc một chi tộc trong
hoàng tộc Nguyễn Phước đă xác nhận
với tác giả họ quả thật là hậu duệ
của bà Ngọc Hân. Có nghĩa là vua Gia Long có lấy
công chúa Ngọc Hân.
Mặt khác, theo cuốn "Làng Tây Sơn" th́
Ngọc Hân chết trong cung Phú Xuân đời vua Cảnh
Thịnh tức Nguyễn Quang Toản, con Nguyễn
Huệ. Đầu sách, tác giả cũng đă dè
dặt cho rằng sách không phải là một tài liệu
lịch sử. Quả thật cuốn "Làng Tây
Sơn" phần nhiều dựa vào những lời
kể của các bậc lăo bối ở vùng Tây Sơn mà
không có kiểm chứng nào.
Nếu "Làng Tây Sơn" đúng về cái chết
của Ngọc Hân th́ "Một Thời Hoàng
Tộc" sai về chuyện Ngọc Hân lấy Gia Long
và ngược lại.
Đệ không dám quả quyết bên nào đúng bên nào
sai, chỉ xin nhường lại cho quư huynh cho nghe cao
kiến.
|
|
|
|

|
|
|
|
|
LSB-bEbEbOnGbOnG2mA
|
|
Xem Lư Lịch
|
|
Gửi tin nhắn tới LSB-bEbEbOnGbOnG2mA
|
|
Ghé
thăm Homepage của LSB-bEbEbOnGbOnG2mA!
|
|
T́m thêm bài của LSB-bEbEbOnGbOnG2mA
|
|
20-03-2004
|
#3
|
|

  
|
|

Ngọc Hân - Công Chúa (khoảng cuối thế
kỷ 18)
Bà là con vua Hiển Tôn nhà Lê, sinh năm nào chưa rơ.
Người ta nói rằng bà có nhan sắc và rất thông
minh lại giỏi về nghề văn thơ.
Năm cảnh-Hưng thứ bốn mươi bảy
(1786), khi ông Nguyễn-Huệ kéo quân đến
Thăng-Long, vào cầu vua Hiển-Tôn, tỏ ư muốn
phùnhà Lê, diệt họ Trịnh, vua Hiện-Tôn liền
gả bà cho ông ấy, sau khi đă phong cho ông ta làm
chức nguyên xoái, tướng Uy-quốc-Công. Rồi bà
theo ông Nguyễn-Huệ về thành Thuận-Hóa.
Năm Mậu-Thân (1788), ông Nguyễn-Huệ lên ngôi
Hoàng-Đế đă5t niên hiệu là Quang-Trung, bà
được phong làm Hữu-Cung Hoàng Hậu.
Với bà , vua Quang-Trung, vẫn rất chiều quí và
đối đăi bằng cách rất đặc
biệt, cho nên dù khi vua Chiêu-Thống mượn quân nhà
Thanh về đánh nhà Tây-Sơn, vua Quang-Trung vẫn ǵn
giữ lăng miếu nhà Lê và không động
đến con cháu vua Lê.
Năm nhâm-Tư (1792) vua Quang-Trung tạ thế, bà mới
ngoài hai mươi tuổi. Tính ra bà ở với vua Quang-Trung
đầu đuôi mới có bảy năm, sinh
được một người con trai và một
người con gái.
Khi nhà Tây-Sơn mất nước, bà và các con
đổi tên họ vào ẩn ơ một làng trong
tỉnh Quảng Nam. Nhưng không bao lâu, co' lkẻ phát
giác, bà phải uống thuốc độc tự
tử, hai con đều phải thắt cổ.
Bấy giờ, mẹ bà c̣n sống. Bà cụ họ
Nguyễn, đời vua Hiển-Tôn nhà Lê,
được phong làm chức Chiêu-Nghi, quê ở làng
Phù-Ninh (tục gọi làng Nành, thuộc tổng
Hạ-Dương, huyện Động Ngàn, phủ
Từ-Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Từ khi nhà Lê
mất nước, bà ấy vẫn về ở tại
làng ấy. Khi được tin con gái và cháu ngoại
đều bị chết thảm, bà cụ cực
kỳ thương xót, liền thuê người lần
vào Quảng-Nam, lấy trộm cả ba cái xác,
đưa xuống thuyền vượt biển ra
Bắc, đem về chôn ở đồng làng Nành.
Cạnh những mộ đó, bà cụ có lập nên
một toà miếu nhỏ, để tḥ con gái và cháu.
Sau đó chừng năm chục năm, vào khoảng
đời vua Thiệu-Trị miếu ấy h́nh như
đă đổ nát. Ở làng Nành có ông Tú-Tài. Nghĩ
đến công đức của Chiêu-Nghi họ
Nguyễn đối với làng ḿnh bèn đứng lên
quyên tiền người làng để sửa lại
miếu đó.
Chẳng ngờ trong làng có ông phó-tổng thù nhau với
ông Tú này, được dịp hắn liền vào
Huế tố cáo ông Tú có lập miếu đó đê
thờ ngụy hậu.
Lập tức ở Huế có lệnh truyền ra,
bắt quan bản hạt phá ngôi miếu đó và khai
quật cả ba ngôi mộ bà và 2 người con,
lấy hài cốt đem đổ xuống sông. Viên
Tú-Tài bị tội rất nặng. Ông
Nguyễn-đăng-Giai lúc ấy đang làm
Tổng-Đốc Bắc-Ninh cũng bị dáng cấp
về tội "thất sát".
Trong đời Gia-Long ở làng Phù-Ninh cũng có
người ta trưởng lầm là bà Ngọc-Hân sau có
lấy vua Gia-Long.
Sự thực th́ bà không hề biết mặt vua ấy
bao giờ.
Văn chương của bả, để lại
rất nhiều, nhưng bị mai một mất
cả, chỉ c̣n một ít bài dưới đây;
Bài Văn Tế : TẾ VUA QUANG-TRUNG
Than rẳng:
"Chín từng ngọc sáng bóng trung tinh, ngoài muôn
nước
vừa cùng trông vẻ thụy;
Một phút mây che vầng Thái-Bạch, trong sáu cung thoát
đă nhạt hơi hương.
Tơ đứt tất ḷng ly biệt.
châu sa giọt lệ cương-thường.
Nhớ phen đến Nhị thuận buồn, hội
bái -việt chín châu
lừng lẫy.
Vừa buổi cầu Nhân sấn dịp, đoàn
ỷ-la đôi nước rỡ ràng.
Hôn cấu đă nên nghĩa cả.
Quan san bao quản dậm trường ?
Nhờ lượng trên cũng muốn tôn chu, t́nh thân
hiếu đă ngăn chia đôi nước
Song thế cả trót đà về Hán, hội
hổn-đồng chi cách trở
một phương ?
Ḷng dẫu xót thấy cơn cách chính.
Thân lại nhờ gặp hội hưng vương.
Thành Xuân theo ngọn long-kỳ, đạo tề trị
gần nghe
tiê'ng ngọc.
Cung-Hư4u rạng mầu địch-phất, t́nh ái ân
muôn đội
nhà vàng.
Danh phận ấy cậy vun trồng mọi vẻ,
Nên nếp xưa nhờ trăm dương.
Ơn sâu nhuần-gội cỏ cây, chốn
lăng-tẩm chẳng phạm trồi
duy-tử.
Lộc nặng thơm tho hương khói, nơi
miếu đường nào khuyết
lễ trung thường ?
Mọi nỗi, mọi nhờ trọn vẹn.
Một điều một vẻ vang
Phép hẳng d́n hạc thược, tước hoa,
buồng quế rạng
khuôn Nội-tắc
Điềm sớm ứng Chung-Tư, Lạn chỉ, phái Lam
thêm diễn
thiên hoàng.
Mảy chút chưa đền đức cả
Gót đầu đều trọn ơn sang,
Đền Vị-ương bóng đuốc bừng
bừng, ḷng cần mẫn vùa
khi dóng dă
Miền cực lạc xe mây vùn vụi, duyên hảo
cầu sao bỗng
dở dang?
Ôi !
Gió lạnh buồng đào, rơi cầm nẩy
sắt;
Sương pha cung đỏ, hoen phấn mờ
gương !
Việc vầy vui nhớ hăy rành rành, dịp ca múa
bổng khuây
chừng Thần-ngự
Buổi chầu chựt tưởng c̣n phảng
-phất, chuông điểm hồi
nào vắng cảnh-Dương?
Vấn vít mấy, bảy năm kết phát !
Đau đớn thay ! trăm nỗi đoạn
trường !
Hè nhà sương ngắm quyển cung châm, tiếng chi
phất hăi mơ màng trên gối.
Nương hiên Nguyệt ngẫm lời đ́nh chỉ,
bóng thúy-hoa
c̣n trấp-trời bên tường.
Hang núi cũng phàn nàn đ̣i chốn !
Cỏ hoa đều sụt đôi hàng !
liều châm thoa mong theo chốn chân du, da tóc trăm
thân nào có tiếc !
Ôm cưỡng-bảo luống ngập ngừng di
thể, sữa mang đôi
chút lại thêm thương.
Tiếc thay !
Ngày thoi thắm thoát !
Bóng khích vội vàng !
Thuyền ngự tọa đă ngang ghềnh Thái Thủy,
Bóng loang xa thẳng trỏ ối tiên hương
Nẻo hoàn toàn xa cách mấy trùng, ngao ngán thêm ngừng
cơn biệt duệ
chén hoàng thủy kính dâng một lẽ, xét soi xin thấu
cơi
minh dương.
|
|
|
|

|
|
|
|
|
LSB-van_yeu_hoai
|
|
Xem Lư Lịch
|
|
Gửi tin nhắn tới LSB-van_yeu_hoai
|
|
T́m thêm bài của LSB-van_yeu_hoai
|
|
20-03-2004
|
#4
|
|

  
|
|

Bài Văn tế này đại để
Ngọc-Hân Công-Chúa nói rằng: Vua Quang-Trung mới lên ngôi
báu, như ngôi sao ở giữa trời, mới rạng
về ngọc trên chín từng mây, bỗng chốc vua
đă tạ thế. Như đám mây đen che vừng
Thái Bạch. Khiến cho cả sáu cung, v́ buồn rầu
mà mùi hương. Trong lúc kẻ mất người c̣n
tấm ḷng bà đau đớn như sợi tơ
đứt, nghĩ đén t́nh nghĩa vợ chồng,
giọt lệ rơi xuống như hạt châu sa.
Rồi bà kể qua lúc vua kéo quân ra Bắc Hà, bấy
giờ thuyền vua thuận buồn xuôi gió tới
bến sông Nhị, cuộc hội cờ lừng
lẫy đến khắp mọi nơi. Duyên trời
run rủi, vua Lê gả bà cho vua Quang-Trung khi ấy,
đoàn là lượt trong đám đưa dâu,đón
rể cuả hai nước, thật rực rỡ,
tưng bừng.. Bà chẳng quản quan sơn, cách trở,
theo chồng vào Nam. Bấy giờ vua cũng sẵn ḷng
tôn phù nhà Lê, như các vua, Tề Hoản, Tấn-Văn
tôn phù nhà Chu cho nên vua đă tỏ t́nh giao hữu
định rơ bờ cơi của hai nước.
Chỉ v́ ngoài Bắc Nguyễn-hữu-Chỉnh gây
loạn, khiến cho đại thế trong nước
đă về nhà Tây-Sơn, cũng như đại
thế trong đời Hán, Sở giao tranh đă về
nhà Hán, vua không thể để cho cuộc thống
nhất c̣n chừa một phương Bắc-Hà, nên
phải phái quân bắt Nguyễn-hữu-Chỉnh, làm cho
vua Chiêu Thống phải bỏ nước mà chạy. Bà
tuy vẫn đau xót về sự mắt thấy cơn
thay đổi chính quyền nhà Lê, nhưng thân bà lại
nhờ vua Quang-Trung mà được gặp một
cơ hội xây dựng đế nghiệp.
Từ khi theo ngọn cờ rồng vào thành Phú-Xuân, bà
thường được nghe vua dạy bảo
về đường tề gia, trị quốc. Vua
cấm không ai được động đến
lăng tẩm nhà Lê, ấy là lộc nặng của vua
khiến cho nén hương, ngọn khói cũng
được thơm tho, ân sâu của vua thấu
đến cỏ cây. Công đức của vua, chưa
báo đáp chút nào, th́ bỗng xe mây của Vua đă xa
chơi miền Cực lạc của Đức Phật
Di-Đà, khiến cho mối duyên bảo cầu giữa vua
và bà thành ra nửa chừng dang dở.
Than ôi ! Từ khi vua mất, buồng đào như
bị gió lạnh, đàn cầm, đàn sắt
đều phải ră rời, cung đỏ như
bị sương pha, vẻ phần mặt hương
đầy hoen ố. Nơi cung Cảnh-Dương là
chỗ ở của vua, đă không c̣n hồi chuông
giục các chung nhân trở dậy trang điểm
như xưa ! Nghĩ đến t́nh xe tơ, kết tóc
trong bảy năm trời ruột bà như đứt
thành trăm đoạn. Khi mở cánh cửa, ngó
đến quyển sách răn bảo cung nhân, c̣n như
thấy tiếng vua văng vẳng trên gối, khi
tựa trước hèn đối bóng trăng soi, mà
ngẫm đến chỉ dụ ban xuống sân
chầu, c̣n như thấy bóng cờ thúy hoa của vua
bay phấp phới bên tường.
chắc rằng, trong khi vua mất, nhân dân ở nơi
hang sâu, núi thẩm, đến cỏ hoa là giống vô
t́nh, cũng phải sụt sùi nhỏ lệ.
Bà cũng muốn liều bỏ trâm thoa để
được chết theo vua để đi cùng vua
đến cơi chân du, dù một trăm cái thân da trắng,
tóc dài cũng không đoái điếc.
Chỉ v́ hai đứa con thơ c̣n nhỏ dại,
cũng đều là máu của vua, không thể dứt
t́nh mà bỏ cho được.
Ngày tháng mau chóng, đời người không bao lâu, bây
giời thuyền vua đă khuất, xe vua đă tới
làng tiên, nghĩ đến cảnh vua ở dưới
suối vàng xa cách, càng ngao ngán, nghẹn ngùng cho cuộc
biệt ly. Vậy xin dâng một chén rượu
nhạt, mong vua xét soi đến.
Bài văn tế trên ư nghĩa rơ ràng, lời lẽ
chải chuốt, dùng nhiều điển đắc
thể và xác đáng. Văn tế như thế thật
là hay. Một người phụ nữ mà có văn tài
bực này, căn cứ ở ta, ngay như ở Tàu là
nước văn học phát đạt, chưa
chắc là có người phụ nữ nào làm
được một bài hay như thế.
~~o0o~~
BÀI AI TƯ VĂNG
Khóc Vua Quang-Trung
Gió hiu hắt pḥng tiêu lạnh lẽo
Trước thền lan hoa héo ron ron
cầu tiên khói tỏa đỉnh non
Xe rồng thăm thẳm bóng loan rầu rầu
Nỗi lai lịch dễ hầu than thở ?
Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao?
Sầu sầu, thảm thảm xiết bao ?
Sầu đầy dạt bể, thảm cao ngất
trờ !
Từ cờ thắm trỏ về đất Bắc
Nghĩa tôn-phù vằng vặc bóng dương
Xe giây vâng mệnh phụ hoàng
Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui
Trăm ngàn dặm quản chi non nước
Chữ nghi gia mừng được phải duyên
Sang yên muôn đội ơn trên
Rỡ-ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm
Lượng che chở, vụng lầm nào kể
Phận đinh ninh, cặn kẽ mọi lời
Nguồn t́nh ắt chẳng chút vơi đáu là
Ḷng đùm bọc thưong hoa, đoái cỏi
Khắp tôn thân cũng đội ơn sang
Miếu đỉnh c̣n dấu trưng thường
tùng thu c̣n rậm mấy hàng xanh xanh
Nhờ hồng phúc gội cành ḥe quê
Đượm hơi dương, giây rể cùng tươi
Non Nam lần chúc tuổi trời
Dư5ng câu Thiên bảo, bầy lời Hoa-Phong
những ao ước trập trùng tuổi hạc
Nguyên trăm năm ngỏ được vầy vui
Nào hay sông cạn bể vùi
Ḷng trời dáo dở, vận người biệt ly
|
|
|
|

|
|
|
|
|
LSB-van_yeu_hoai
|
|
Xem Lư Lịch
|
|
Gửi tin nhắn tới LSB-van_yeu_hoai
|
|
T́m thêm bài của LSB-van_yeu_hoai
|
|
20-03-2004
|
#5
|
|

  
|
|

Từ tháng hạ, mưa hè trái tiết
Xót ḿnh rồng mỏi mệt chẳng yên
Xiết bao kinh sợ lo phiền
Miếu thần đă đảo, thuốc tiên lại
cầu
Khắp mọi chốn đâu t́m rước
Phương pháp nào đổi được cùng
chăng ?
Ngán thay máy tạo bần bằng
Bóng mây thoắt đă ngất chừng xe loan
Cuộc tụ tán bi hoan kíp bấy ?
Kể sum vầy đă mấy năm nay ?
Lênh đênh chút phận bèo mây
Duyên kia đă vậy, thân này nương đâu ?
Trằn trọc suốt đêm thâu, ngày tối
Biết cậy ai dập nổi bi thương ?
Trông mong luôn những mơ màng
Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như say
Khi trâ5n gió hoa bay thấp thoáng
Ngơ4 hương trời bảng lảng c̣n đâu
Vô5i vàng sửa áo lên chầu
Thương ôi ! quạnh quẽ, trước lầu
nhện giăng !
Khi bóng giăng lá in lấp lánh
Ngơ4 tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi
Thương ôi ! vắng vẻ, giữa trời
sương so !
Tường phong thái xót xa đ̣i đoạn
Mă5t rồng sao cách diễn lâu nay ?
Có ai chốn ấy về đây ?
Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành
Nẻo u-minh khéo chia đôi ngả
Nghĩ đ̣i phen nồng nă đ̣i phen
kiê1p này chưa trọn chữ duyên
Ước xin kiếp khác vẹn nguyền lửa hương
Nghe trước có đấng vương Thang-Vơ
Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao
Mà may áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước biết bao công tŕnh
Nghe rành rành trước vua Nghiêu-Thuấn
Công đức giầy, ngự vận càng lâu
Mà nay lượng cả ân sâu
Móc mưa tưới khắp chín châu đượm
nhuần
Công nhường ấy, mà nhân nhường ấy
Cơi thọ sao hẹp mấy hóa công ?
Rô5ng cho chuộc được tuổi rồng
Đổi thân ắt hẳn bỏ ḷng tội ngươi
Buồn thay nhẽ ! sương rơi gió lọt !
Cảnh đ́u hiu thánh thót châu sa
Tưởng lời di chúc thiết tha
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê
Buồn thay nhẽ ! Xuân về hoa ở
Mối sầu riêng, ai gỡ cho xong ?
Quyết liều mong vẹn chữ "ṭng"
Trên giường nào ngại, giữa gịng nào e !
C̣n trứng nước thương v́ đôi chút
Chư4 t́nh thâm chưa thoát được đi
Vậy nên nấn ná đôi khi
H́nh tuy c̣n ở, phách th́ đă theo
Theo buổi trước ngự đèo
Bồng-đảo
Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân
Theo xa thôi lại theo gần
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa
Đương theo bổng tiếng gà sực tỉnh
Đau đớn thay ! ấycảnh chiêm bao !
Mơ màng thêm nỗi khát khao !
Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ?
Tưởng thôi, lại bồi hồi trong dạ
Nguyện đồng sinh sao đă kíp phai ?
Xưa sao sớm khỏi, khuya bày
Nặng ḷng vàng đá, cạn lời tóc tơ ?
Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ
T́nh cô đơn, ai kẻ xét đâu ?
Xưa sao gang tấc gần chầu
Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca ?
Giờ sao bỗng cách xa đôi cơi
Tin hàng huyên không hỏi thăm lênh ?
Nửa cung gẩy phím cầm lành
Nỗi con côi cút, nỗi ḿnh bơ vơ !
Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đời lúc
Tiếng tử qui thêm giục ḷng thương !
Năo người thay ! cảnh tiên hương
Dạ thường quanh quất, mắt thường
ngó trông !
Trông mái đông , lá buồn xuôi ngược
Thấy mênh mông những nước cùng mây !
Đông rồi th́ lại trông tây
Thấy non ngân-ngất, thấy cây rườm rà !
Trông nam thấy nhạn sa lác-đác
Trông bắc thôi, ngàn bạc mầu sương
No trông trời đất bốn phương
Cơi tiên khơi thẫm biết đường nào đi
?
Cậy ai có phép ǵ tới đó
Dưng vật thường, xin ngỏ ḷng trung
Này gương là của Hán-Cung
Ơn trên xưa đă soi chung đ̣i ngày
Duyên hảo-hợp xót rầy nên lẽ
Bụng ai hoài lạnh ghé v́ đâu ?
Xin đưa gương ấy về chầu
Ngơ xoi cho tỏ, gót đầu mong ơn !
Tưởng linh-sản nhơn-nhơn c̣n đâu
Nơi sinh cơ có thấu cho không ?
Cung xanh đương tuổi ấu xung
Di mưu sao nỡ quên ḷng đoái thương ?
Gót lân chỉ mấy hàng lấm chấm
Đầu mũ mao, ḿnh tấm áo gai
U-ơ ra trước hương-đài,
Tưởng quang cảnh ấy, chua cay đường
nào !
Trong sáu viện, ố đào, ủ liễu
Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê
Long đong xa cách hương quê
Mong theo, lầm lối, mong về, tủi duyên
Dưới bệ ngọc, hàng uyên vơ vơ
Cắt chân tay thương khó xiết chi !
Hang sâu nghe tiếng thương bi
Kẻ sơ c̣n thế, huống ǵ người thân !
Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát
Mạch sầu tuôn, ai tát nên vơi ?
Càng trông càng một xa vời
Tấc ḷng thảm thiết, chín trời biết
chăng ?
Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi
Gương Hằng-Nga đă bụi màu trong
Nh́n gương càng thẹn tấm ḷng
Thiên duyên lạnh lẽo đêm đông biên hà
Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn
cánh hải đường đă quện giọt
sương
trông chim càng dễ đoạn trường
Uyên-ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ
đôi
cảnh nào cũng bùi ngùi cảnh ấy
Tiệc vui mừng c̣n thấy chi đâu ?
Phút giây băi bể, nương dâu
Cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?
Chữ t́nh nghĩa trời cao, đất rộng
Nỗi đoạn trường c̣n sống, c̣n đau
Mấy lời tâm sự trước sau
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho
!
~~oOo~~
Ngọc-Hân công chúa, sau khi an táng vua Quang-Trung xong v́ quá
nhớ tiếc Ngài và cảm thương ḿnh, nên mới
làm ra bài i Tư Văng này. Ư bà nói : giữa lúc gió đưa
hiu hắt, pḥng tiêu lạnh lẽo, dưới thềm
hoa cỏ úa rầu, bà nhớ vua Quang-Trung mà ngóng lên
trời để ḥng nh́n xem Ngài ở nơi nào ?
Nhưng... Chỉ thấy ở trên đỉnh núi, cái
cầu của Ngài lên tiên đă bị mây tỏa mịt
mù ! Bà trách cái nhân duyên sao lỡ làng đến thế ?
Sao sầu thảm đến thế ? Những cái
sầu nếu đem đổ đi, có thể làm cho
bể dạt, đem chất lại , có thể cao
đến ngất trời ! Nhờ vua Quang-Trung hết
ḷng yêu đương, nên bà được ở vào
một ngôi cao, sang trọng, hưởng cảnh mày
mặt rỡ ràng.
Tuy non nước nhà Lê đă bị thay đổ,
nhưng cái nguồn t́nh ái cua vua vâ4n không vơi đi chút
nào. Yêu hoa nhớ đến gốc hoa, vua yêu bà, nhớ
đến ḍng dơi nhà bà mà đ́nh miếu họ Lê
vẫn c̣n cúng tế, lăng tẩm họ Lê, cây ṭng, cây
thu vẫn rườm rà xanh tốt. Con cháu vua Lê cũng
nhờ hồng phúc mà vẻ vang.
Mỗi lần có lễ chúc thọ, bà muốn vua cũng
thọ như trái núi Nam, đă chúc tụng vua như
thơ Thiên-bảo chúc vua nhà Chu và lời Hoa-Phong chúc vua
Đường-Nghiêu. Mong tuổi vua chồng chất
như tuổi con hạc. Không ngờ việc
đời không thể biết trước, cũng
như sông có lúc cạn, bể có lúc bị vùi, ḷng
trời thật dáo dở, khiến cho vận
người không thể tránh được một
cuộc chia ĺa...
Bài Ai Tư Văng của Ngọc-Hân Công chúa giống như
Cung-oán ngâm khúc, v́ có nhiều chỗ đối nhau
từng đoạn của Ôn-như-Hầu và
Chinh-phụ-Ngâm của Đặng-trần-Côn. Ư tứ
hoạt bát, lời văn lâm ly như những câu này :
"Lênh đênh chút phận bèo mây
Duyên kia đă vậy, thân này nương đâu? "
hay là
"Chữ t́nh nghĩa trời cao đất rộng
Nỗi đoạn trường c̣n sống, c̣n đau...
"
hay là
"Buồn thay nhẽ xuân về, hoa ở
Mối sầu riêng ai gỡ cho ra..."
Thật là, lời hay, ư mới, thiết t́nh, thiết
cành nếu không phải người thương chồng
một cách thiết tha và tủi thân góa bụa bơ
vơ, đau đớn, th́ không thể nói hết
nỗi ḷng đau của ḿnh trong mấy vần thơ
đó.
Một áng văn chương bất hủ, xứng
đáng cho chị em chúng ta nhắc nhở đến .
**Sưu Tầm**
|
|
|
|

|
|
|
|
|
LSB-van_yeu_hoai
|
|
Xem Lư Lịch
|
|
Gửi tin nhắn tới LSB-van_yeu_hoai
|
|
T́m thêm bài của LSB-van_yeu_hoai
|
|
29-03-2004
|
#6
|
|


|
|

Đệ cũng không biết chính xác là sao
nhưng ở quê của đệ có câu ḥ : "Số
đâu có số lạ lùng - Con vua lại lấy hai
chồng làm vua" , theo các bậc bô lăo th́ đây là câu
ḥ ám chỉ Công chúa Ngọc Hân tái giá với vua Gia long .
Đệ chỉ biết vậy thôi , có ǵ mong các huynh
đệ chỉ giáo giùm !
|
|
|
|

|
|
|
|
|
langdu
|
|
|
Xem Lư Lịch
|
|
|
Gửi tin nhắn tới langdu
|
|
|
T́m thêm bài của langdu
|
|
|
30-03-2004
|
#7
|
|

 
|
|

Trích từ CÔNG CHÚA ĐÔNG ĐÔ, HOÀNG HẬU PHÚ XUÂN
NÀNG LÀ AI?
MINH Vũ HỒ VĂN CHÂM
Trên dưới hai trăm năm nay, trong dân gian
thường truyền tụng câu ca dao:
Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua
Con vua đây là con vua Hiển tông triều Hậu Lê. Nhà
Hậu Lê đóng đô ở Hà nội ngày nay, thời
bấy giờ gọi là Đông đô. Nàng là công chúa Đông
đô. Hai đời chồng vua th́ một đời
chồng là vua nhà Nguyễn Tây Sơn, c̣n đời
chồng kia là vua sáng lập nhà cựu Nguyễn. Cả
hai triều vua Nguyễn Tây Sơn và cựu Nguyễn
đều đóng đô ở thành phố Huế ngày
nay, thời bấy giờ gọi là Phú Xuân. Nàng là Hoàng
hậu Phú Xuân. Vậy nàng là công chúa Đông đô, Hoàng
hậu Phú Xuân. Nàng quả là một nhân vật phi
thường. Nàng là ai vậy?
Trong lịch sử cận đại Việt Nam, hễ
nói đến công chúa con vua mà lại lấy chồng
vua, làm hoàng hậu, là người ta nghĩ ngay
đến công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Lê Hiển tông,
gả làm vợ vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn.
dựa vào câu hát dân gian trên đây, người ta lại
cho rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa Lê
Ngọc Hân được vua Gia Long lập làm Đệ Tam
cung, cho nên bà là công chúa mà lại lấy chồng hai
lần, cả hai đời chồng đều là
chồng vua cả. Lại cũng có truyền thuyết
cho rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, chung cục
của Lê Ngọc Hân vô cùng bi thảm. Bà đă cùng hai con
trốn tránh được một thời gian rồi
bị bắt và bị xử cực h́nh.
Sự thực như thế nào? Nàng công chúa Đông đô,
Hoàng hậu Phú Xuân đích thực là ai vậy?
Công chúa Lê Ngọc Hân sinh năm 1771, niên hiệu Cảnh
Hưng thứ 32, là công chúa thứ 21 con vua Hiển Tông
nhà Hậu Lê. Bà mẹ công chúa Lê Ngọc Hân tên là
Nguyễn Thị Huyền, người làng Phù Ninh,
huyện Đông ngàn, tỉnh Bắc ninh. Công chúa Lê Ngọc
Hân là em Thái tử Lê Duy Vỹ và là cô Hoàng tự tôn Lê Duy
Kỳ tức là người sau này lên nối ngôi vua Lê
lấy niên hiệu là Chiêu Thống. Khi Nguyễn Huệ
làm tiết chế, thống lĩnh quân đội Tây
Sơn ra đánh Bắc Hà với danh nghĩa "Phù Lê
diệt Trịnh" vào năm 1786 th́ công chúa Lê Ngọc
Hân mới 16 tuổi. V́ Nguyễn Huệ một phần
nào cũng có bụng tôn phù nhà Lê, mặt khác do sự
mối mai thu xếp của Nguyễn Hữu Chỉnh
muốn bắc cầu thân gia giữa vua Lê Hiển tông
và Tiết chế Nguyễn Huệ, nên vua Lê Hiển tông
đă đem công chúa Lê Ngọc Hân gả cho Nguyễn
Huệ và phong Nguyễn Huệ làm Nguyên súy dực chính
phù vận Uy Quốc công.
Từ cờ thắm trở vời đất bắc
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy
Hai vợ chồng Nguyễn Huệ lưu lại Đông
đô một thời gian ngắn. Sau khi vua Lê Hiển
tông băng hà, công chúa Lê Ngọc Hân theo chồng về
Phú Xuân. Đến năm 1789, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng
đế, phong cho công chúa Lê Ngọc Hân làm Bắc Cung
Hoàng hậu. Thế là nàng công chúa Đông đô đă trở
thành Hoàng hậu Phú Xuân.
Bắc cung Hoàng hậu họ Lê, bà là lá ngọc cành vàng,
quê ngoại lại là xứ Kinh Bắc tài hoa văn
vật, nên bà là một phụ nữ thông minh,
đức hạnh và nhan sắc, thật là vẹn toàn
mọi vẻ. Ngày mới thành hôn với Nguyễn
Huệ, trên đường đi bái yết các tiên
đế ở Thái miếu trở về, Nguyễn
Huệ hỏi bà: "Các hoàng tử và công chúa, mấy ai
được vinh hạnh như nàng, được
thành thân với ta, nàng cảm thấy như thế
nào?" Tuy mới 16 tuổi đầu, công chúa Lê
Ngọc Hân đă tỏ rơ là người giỏi ứng
đối: "Nhà vua quen sống đạm bạc,
bổng lộc ít ỏi, các hoàng tử và công chúa
đều thanh bạch, nay thiếp được nâng
khăn sửa túi cho chúa công, cũng tỷ như
giọt nước trên không trung rơi vào nơi lầu
son gác tía, thân phận thiếp quả là may mắn
hơn cả." Nguyễn Huệ rất đẹp
ḷng.
Bà có nhiều ảnh hưởng trong các quyết
định quan trọng của Nguyễn Huệ. Khi vua
Lê Hiển tông băng hà, Nguyễn Huệ đă nghe
lời công chúa Lê Ngọc Hân, có ư muốn lập Sùng
Nhượng công Duy Cận lên ngôi thiên tử. Nhưng
hoàng tộc nhà Lê v́ việc đó mà đ̣i tước
bỏ sổ bộ của công chúa. Nguyễn Huệ
lại theo lời bà mà chịu lập Hoàng tử tôn Duy
Kỳ lên ngôi vua.
Vừa thông minh,vừa khôn khéo, trong thời gian làm Hoàng
hậu ở Phú Xuân, công chúa Lê Ngọc Hân chẳng
những chỉ làm đẹp ḷng Đức chí tôn mà c̣n
khuynh loát cả triều đ́nh như chúng ta sẽ
thấy về sau này ảnh hưởng của bà
lớn lao như thế nào trong việc tuyển
chọn hoàng hậu cho vua Cảnh Thịnh. Thật
vậy, bà đă quyết định đem em gái là công
chúa Lê Ngọc B́nh, cũng là công chúa con vua Lê Hiển tông
như bà, vào làm chính cung cho Hoàng đế nối
nghiệp nhà Tây Sơn là vua Cảnh Thịnh Nguyễn
Quang Toản.
Công chúa Lê Ngọc Hân lấy Nguyễn Huệ năm 1786,
thụ phong Bắc cung Hoàng hậu năm 1789. Bà sinh
hạ một trai là Nguyễn Văn Đức và một gái
là Nguyễn Thị Ngọc. Công chúa Lê Ngọc Hân mất
năm 1799, đương triều vua Cảnh Thịnh
nhà Nguyễn Tây Sơn. Năm đó bà mới 29 tuổi.
Bà được truy tặng là Như Ư Trang Thuận
Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu.
Công chúa Lê Ngọc Hân vừa thông Hán tự, vừa
giỏi quốc văn. Lúc hoàng đế Quang Trung
băng hà vào ngày 15 tháng 9 năm 1792, bà mới có 22
tuổi. Bà chỉ mới chung sống với nhà vua
vỏn vẹn có 6 năm trời, có được hai
mặt con. Làm sao có thể tưởng tượng
hết tâm trạng thống khổ của bà lúc bấy
giờ. Rất may cho hậu thế là bà có soạn
một bài văn tế bằng quốc âm để
tế nhà vua. Trong nỗi bất hạnh lớn lao
của công chúa Lê Ngọc Hân là cái may mắn tột cùng
của nền văn học nước nhà. Bà đă
để lại cho đời sau bài Ai Tư Văn mà
tất cả chúng ta đều đă biết. Tuy không
thể so sánh ngang hàng với truyện Kim Vân Kiều hay
Khúc Ngâm Chinh Phụ, nhưng bài Ai Tư Văn cũng là
một áng văn rất đáng trân trọng, cũng là
một vật báu trong kho tàng văn học nước
nhà. Trong bài điếu văn có nhiều câu nhiều
chữ đọc lên như oán như than, khiến
người thưởng lăm cũng thấy nao ḷng.
Phải là người trong cuộc, và tâm hồn hết
sức tinh tế, t́nh cảm hết sức bén nhảy,
mới có thể giải bày tâm trạng bi thương
thành những lời thơ năo nùng diễm tuyệt
nhường ấy! Nỗi buồn nào lê thê bằng
nỗi buồn của người góa phụ c̣n trẻ
đau đớn than van về cái chết đột
ngột của người chồng vương giả
tài cao mà mện đoản:
Khi trận gió hoa bay thấp thoáng
Ngỡ hương trời bảng lảng c̣n đâu
Vội vàng sửa áo lên chầu
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu
nhện giăng!
và niềm xót xa nào bi thiết hơn niềm xót xa
của người mẹ trẻ v́ thương con c̣n
trứng nước mà chưa thể liều thân cho
vẹn chữ ṭng:
Quyết liều mong vẹn chữ ṭng
Trên rường nào ngại, giữa gịng nào e
C̣n trứng nước thương v́ đôi chút
Chữ thân t́nh chưa thoát được đi
Công chúa Lê Ngọc Hân là người tài sắc vẹn
toàn. Bà sinh trưởng nơi chốn điện
ngọc đền vàng, đă là công chúa con vua lại
lấy chồng làm vua. Sau khi Hoàng đế Quang Trung
băng hà, Hoàng thái tử Quang Toản lên kế vị,
lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh. Tuy vua Cảnh
Thịnh là con của bà Vũ hoàng Chính hậu họ
Phạm, nhưng lúc bấy giờ bà này đă mất,
nên công chúa Lê Ngọc Hân được tôn lên ngôi vị
Hoàng Thái hậu. Hơn nữa, bà lại c̣n là chị
ruột của công chúa Lê Ngọc B́nh lúc bấy giờ
là Hoàng hậu vợ vua Cảnh Thịnh. Trong chốn
nội đ́nh, địa vị của bà như
vậy có thể nói là tột cùng tôn quí.
Năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu Cảnh Thịnh
thứ 7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, hưởng
dương 29 tuổi. Lễ bộ Thượng thư
Đoan Nham hầu Phan Huy Ích phụng chỉ soạn bài
văn tế cho Hoàng đế Cảnh Thịnh đích
thân đọc trước linh sàng Hoàng thái hậu
họ Lê. Bà được truy tặng là Như Ư Trang
Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Bài văn tế
này đă được Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm t́m
thấy và công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943
tại Hà nội.
Vậy rơ ràng công chúa Lê Ngọc Hân đă mất tại
Phú Xuân, đương triều vua Cảnh Thịnh. Tuy
vậy, chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân vẫn
là một đề tài cho nhiều câu chuyện thành
văn hoặc truyền khẩu khác nhau, nhiều khi trái
ngược nhau là đằng khác. Nguyên do là sau khi nhà Tây
Sơn mất ngôi, con cháu nhà Tây Sơn bị tuyệt
diệt, các tài liệu về nhà Tây Sơn bị cấm
tàng trữ, nên chẳng c̣n ai có cơ hội và
phương tiện nghiên cứu thân thế và sự
nghiệp các nhân vật thời Tây Sơn một cách
chính xác và rơ ràng. Các tài liệu về nhà Tây Sơn
được lưu hành chỉ thuần một
loại là các sử liệu của Quốc Sử Quán
triều Nguyễn mà thôi. Hơn nữa, những
người đặt chuyện dă sử lại có thói
quen dệt gấm th́ thường thêm hoa, để cho
câu chuyện đượm phần ly kỳ hấp
dẫn. Bởi những lẽ đó mà chung cục
của công chúa Lê Ngọc Hân được kể
lại trong các câu chuyện thành văn hay truyền
khẩu đă không đúng với sự thật. Không có
câu chuyện nào kể rằng công chúa Lê Ngọc Hân
đă chết khi nhà Tây Sơn đang c̣n trị v́ ở
Phú Xuân. Ngay cả việc ông Hoa Bằng trên tạp chí
Tri Tân năm 1943 xuất bản tại Hà nội đă
công bố bài Văn tế Vũ Hoàng hậu do Phan Huy Ích
phụng chỉ vua Cảnh Thịnh viết để
nhà vua đích thân đọc trước linh sàng công chúa
Lê Ngọc Hân, cũng chẳng thay đổi
được t́nh trạng ngộ nhận nói trên.
Từ 1943 đến nay, các huyền thoại về công
chúa Lê Ngọc Hân truyền tụng trong dân gian cũng
như các tuyện dă sử viết về chung cục
công chúa Lê Ngọc Hân xuất hiện trên sách báo vẫn
cứ một chiều đi theo con đường
cũ sai lạc bấy lâu nay. Những truyền
thuyết và chuyện dă sử về công chúa Lê Ngọc Hân
từ trước đến nay có thể xếp vào hai
loại. Loại thứ nhất nói rằng sau khi nhà Tây
Sơn mất ngôi, công chúa Lê Ngọc Hân đă đưa
hai con đi trốn, sống trà trộn trong dân chúng
được một thời gian rồi rốt
cục cũng bị phát hiện và bị giải
về Huế xử cực h́nh. Loại thứ hai nói
rằng sau khi diệt nhà Tây Sơn, vua Gia Long đă sách
lập công chúa Lê Ngọc Hân làm Đệ Tam cung, và bà đă
có hai con với nhà vua là các hoàng tử Quảng Oai công và
Thường Tín Quận vương mà từ
đường đến nay vẫn c̣n ở ngoại
ô thành phố Huế.
Những truyền thuyết và chuyện dă sử về
chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc
loại thứ nhất th́ đại thể về
nội dung đều giống nhau, có khác biệt là
chỉ khác biệt về địa điểm đi
lánh nạn mà thôi. Sau khi nhà Tây Sơn mất, công chúa Lê
Ngọc Hân đem hai con chạy trốn vào Quảng nam,
sống trà trộn trong dân chúng được một
thời gian, cuối cùng bị phát hiện, bị
bắt đưa về Phú Xuân và bị xử án tam ban
triều điển.
Nhiều truyền thuyết khác th́ nói rằng công chúa Lê
Ngọc Hân đem các con chạy trốn vào quê chồng
ở B́nh Định, rồi cũng bị bắt và
cũng bị xử cực h́nh như đă nói ở
trên. Trong những thập niên 60, 70 lại có những câu
chuyện ly kỳ hơn về chung cục của công
chúa Lê Ngọc Hân, cả thành văn lẫn truyền
khẩu, theo đó th́ công chúa Lê Ngọc Hân đă mang các
con chạy trốn vào tận Đồng nai Gia định,
nhờ đó mà tránh được tai mắt và nanh
vuốt kẻ thù. Nhiều câu chuyện truyền
miệng lại c̣n đi xa hơn, kể rằng sau khi
nuôi dạy các con khôn lớn nên người, công chúa
đă thí phát, tu hành đắc đạo và trở thành
Giáo chủ của giáo phái Bửu Sơn Kỳ
Hương. Nhiều người trong Nam mang họ
Nguyễn lại tự nhận là hậu duệ của
Hoàng tử Nguyễn Văn Đức - con Đại
đế Quang Trung và Vũ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân.
Gần đây, ở hải ngoại lại có một
vài tác giả viết dă sử về chung cục của
công chúa Lê Ngọc Hân, viết rằng sau khi Đông đô
thất thủ, nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa đă
đem hai con chạy trốn về một vùng quê
hẻo lánh ở Hải dương, sống lén lút trà
trộn trong dân chúng được một thời gian
rồi rút cục cũng bị phát hiện, bị
bắt và bị giải về Phú Xuân lănh án tử h́nh.
Tất cả những câu chuyện về chung cục bi
thương huyền hoặc của công chúa Lê Ngọc
Hân là hoàn toàn không phù hợp với sự thật
lịch sử bởi một lẽ giản đơn
và rơ ràng là công chúa Lê Ngọc Hân đă chết khi nhà Tây
Sơn chưa mất ngôi. Công chúa Lê Ngọc Hân mất
vào năm 1799, dưới triều vua Cảnh Thịnh,
nghĩa là trước khi kinh thành Phú Xuân thất
thủ. Công chúa Lê Ngọc Hân đă được truy
tặng là Như Ư Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng
Hậu. Công chúa Lê Ngọc Hân đă được ma chay
tống táng tại kinh thành theo đúng nghi thức
vương giả dành cho một bậc mẫu nghi thiên
hạ. Bằng chứng hùng hồn là bài văn tế
Vũ Hoàng Hậu t́m thấy trong Dụ Am Văn Tập
của Phan Huy Ích mà Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đă công
bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà
nội. Công chúa Lê Ngọc Hân đă chết
đương thời vua Cảnh Thịnh trị v́ th́
làm ǵ có câu chuyện công chúa Lê Ngọc Hân phải lâm
cảnh bôn ba lưu lạc sau khi nhà Tây Sơn mất
ngôi.
Các truyền thuyết và truyện dă sử về chung
cục của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc loại
thứ hai so với những câu chuyện trên đây th́
ly kỳ hơn và chứa đựng nhiều t́nh
tiết hư cấu xoay quanh các sự kiện lịch
sử có thật. Thí dụ có chuyện kể rằng đầu
năm Tân Dậu 1801, Nguyễn vương theo kế
sách "Tượng kỳ khí xa" của Nguyễn
Văn Thành, đă bỏ rơi Vơ Tánh bị vây trong thành
B́nh Định để đem toàn lực ra đánh úp
Phú Xuân. Ngày mồng 1 tháng 5 năm Tân Dậu, Nguyễn
vương vào cửa Tư Dung, đến tối
vượt phá Hà trung tiến chiếm bến đ̣
Trừng Hà, ngày hôm sau đánh tan quân của vua Cảnh
Thịnh ở cửa Eo và sáng ngày mồng 3 tháng 5 đem
đại binh vào thành Phú Xuân dụng quân thần tốc
đến độ vua Cảnh Thịnh thua chạy
không kịp mang theo gia quyến. Tối hôm mồng 3 tháng
5 năm Tân Dậu, Nguyễn vương đi tuần
tra trong thành và đă gặp người thiếu phụ
vương giả để rồi nên duyên vợ
chồng.
Lại có chuyện kể rằng khi vua Gia Long quyết
định sách lập công chúa Lê Ngọc Hân làm Đệ Tam
cung, triều thần có người can gián, cho rằng
công chúa chỉ là vật dư thừa của Tây Sơn,
và nhà vua đă trả lời rằng chúng ta tiêu diệt
Ngụy Tây th́ giang san này, thành quách này, nhất nhất há
chẳng phải lấy lại từ tay Ngụy Tây hay
sao, như thế cũng là vật dư thừa của
Tây Sơn vậy.
Lại có chuyện kể rằng sau khi vua Gia Long
băng hà, Quảng Oai công yểu tử, Thường
Tín Quận vương đă lập phủ đệ
riêng, th́ Đệ Tam cung Lê Ngọc Hân lui về
dưỡng già tại quê mẹ ở Bắc ninh cho
đến lúc lâm chung. T́nh cảnh công chúa "vinh
diệu một đời có thể nói là cùng tột,
thế mà trong những ngày xế bóng lưu lạc
nơi quê ngoại, tưởng tới chuyện xưa
cảnh cũ, há chẳng nao ḷng mà than thở cho Tạo
vật đă khéo trêu ngươi, không có việc ǵ
lại không xảy ra được khiến phát sinh
nỗi cảm khái vô cùng cho cuộc sống phù du!"
(Hậu hứa Bắc quy tùng mẫu thị hương
quán trú ư Bắc ninh nhi chung yên. Khảo chúa tiểu
tắc vi hoàng nữ, trưởng tắc vi hoàng
hậu, kế vị hoàng thái hậu. Kỳ nhất sinh
chi vinh diệu khả vị cực hỉ. Cập
kỳ văn niên bất miễn ư lưu lạc,
tưởng Chúa ư thử th́ phủ kim tư tích, xúc
cảnh hưng hoài, ninh bất trướng nhiên thán
Tạo vật chi lộng nhân, mỹ sở bất chí,
nhi sinh vô cùng chi cảm khái tai!)
(Ngọc Hân công Chúa dật sự, Nam Phong Tạp chí,
số 103, 1926)
Nhưng độc đáo hơn hết, phải kể
đến bản gia phả của họ Nguyễn
hoàng tộc. Đó là cuốn Hoàng Triều Ngọc Phả,
bản quốc ngữ, do Tôn Nhân Phủ biên soạn và
ấn hành dưới triều vua Thành Thái. Trong cuốn
sách này, ở các chương nói về Quảng Oai công và
Thường Tín Quận vương con vua Gia Long, rơ ràng
mẹ đẻ của ngài được ghi là Công chúa
Lê Ngọc Hân, con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Thật là
rơ ràng và chính xác như một cộng một là hai,
như hai cộng hai là bốn, không c̣n bàn căi ǵ nữa
cả. Người viết đă chính mắt
được đọc những ḍng chữ đó vào
năm 1988 tại nhà nhạc phụ, sách do ông Tôn
Thất Yên đưa cho mượn. Ông Tôn Thất Yên
lúc bấy giờ là người được hội
đồng Nguyễn Phước tộc ủy thác
điều hành công việc thường ngày của
Hội đồng Nguyễn Phước tộc ở
Sài g̣n, và được hội Trung Việt Ái hữu
ủy thác trông nom quản lư nghĩa trang G̣ Dưa,
Thủ đức.
Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương là
những nhân vật có thật, tuy rằng Quảng Oai
công yểu tử và Thường Tín Quận vương
ngày nay không có con cháu nối ḍng, nhưng từ
đường các ngài hiện nay ở vùng ven đô
Huế vẫn c̣n hương khói, các bài phiên hệ thi
về phần các ngài vẫn c̣n được
truyền tụng, v́ vậy việc gia phả hoàng
tộc do Tôn Nhân Phủ ấn hành ghi rằng mẹ
đẻ các ngài đích thị là công chúa Lê Ngọc Hân
là một sự kiện không thể không lấy làm
trọng yếu hàng đầu trong việc nghiên cứu
chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân.
Vậy th́ vấn đề được đặt
ra là công chúa Lê Ngọc Hân có lấy vua Gia Long hay không.
Nếu công chúa Lê Ngọc Hân không lấy vua Gia Long th́
không c̣n có vấn đề công chúa Lê Ngọc Hân
được sách lập làm Đệ Tam cung, cũng
như không c̣n có sự kiện công chúa Lê Ngọc Hân là
mẹ đẻ các hoàng tử Quảng Oai công và
Thường Tín Quận vương. Mà chúng ta đă
biết địch xác là công chúa Lê Ngọc Hân chết
vào năm 1799, dưới triều vua Cảnh thịnh,
khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi, vậy th́ khi vua Gia
Long tiến quân vào thành Phú Xuân tháng 5 năm Tân Dậu,
dương lịch 1801, th́ công chúa Lê Ngọc Hân đă
mất trước đó hai năm, h́nh hài đă nằm
sâu dưới ḷng đất lạnh, th́ làm sao sống
lại kết duyên vợ chồng với v́ vua chiến
thắng. Bởi lẽ đó, những câu chuyện thêu
dệt chung quanh việc công chúa Lê Ngọc Hân lại một
lần nữa lấy chồng vua là hoàn toàn không có
căn cứ, là hoàn toàn sai sự thật.
Nhưng c̣n cuốn ngọc phả bản quốc
ngữ của Tôn Nhân Phủ đă khẳng định
công chúa Lê Ngọc Hân là mẹ đẻ của Quảng
Oai công và Thường Tín Quận vương? Xin thưa
ngay rằng cuốn gia phả này là bản quốc
ngữ, không phải bản hán văn, lại không
phải do Quốc sử quán biên soạn mà là tác phẩm
phiên dịch của Tôn Nhân Phủ từ bản hán
văn cũng của Tôn Nhân Phủ mà ra, mà bản hán
văn này th́ trong các chương nói về Quảng Oai
công và Thường Tín Quận vương đă viết
rằng mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển
Tông nhà Hậu Lê. Cái lối hành văn cổ điển
bằng Hán tự th́ có khi nào nêu rơ tục danh đâu. Mà
tác giả bản Hán văn khi viết rằng mẹ các
ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển tông nhà Hậu Lê,
th́ đă chắc đâu muốn khẳng định
rằng đó là công chúa Lê Ngọc Hân. Biết đâu tác
giả bản Hán văn muốn nói đến một
nàng công chúa Lê Ngọc khác, cũng con vua Hiển tông nhà
Hậu Lê? Mà điều này th́ những người phiên
dịch ra quốc ngữ đă không hề hay biết,
lại thêm nặng t́nh tân học, viết lách tŕnh bày
việc ǵ cũng muốn tách bạch rơ ràng nên đă
phiên dịch nhóm chữ "Công chúa Lê Ngọc, con vua
Hiển tông" thành "Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua
Hiển Tông" theo sở kiến chủ quan của
ḿnh.
Như vậy rơ ràng hai hoàng tử Quảng Oai công và
Thường Tín Quận vương, con vua Gia Long,
đích thực là cháu ngoại vua Hiển Tông nhà Hậu
Lê. Chỉ v́ bản quốc ngữ do sở kiến
chủ quan của người phiên dịch đă
khẳng định mẹ đẻ hai ngài là công chúa Lê
Ngọc Hân thay v́ cứ để là công chúa Lê Ngọc
như nguyên bản hán tự, nên mới nảy sinh ra
điểm phi lư là người đă chết mấy
năm trước đó bây giờ c̣n đâu mà lại
lần nữa đi lấy chồng để rồi
sinh đậng hai con trai. Lại nữa cuốn Hoàng
Triều Ngọc Phả của Tôn Nhân Phủ là gia
phả thành văn của Nguyễn Phước tộc,
là tài liệu chính thức về phả hệ hoàng phái,
không thể nào được trước tác tùy
tiện và thiếu chính xác được. Bởi
vậy, Quảng Oai công và Thường Tín Quận
vương đích thực là cháu ngoại vua Hiển
Tông nhà Hậu Lê, mẹ là công chúa Lê Ngọc, nên trong gia
phả mới ghi chép rơ ràng như vậy. cũng không
thể có trường hợp thấy sang bắt quàng
làm họ, thấy công chúa con vua lá ngọc cành vàng bèn
nhận càng là bên ngoại cho thêm phần vẻ vang,
bởi một lẽ giản đơn họ Nguyễn
cũng là đại quư tộc, đă ở ngôi chúa Nam Hà
ba trăm năm rồi, và hiện tại đang
giữ ngôi vua thống nhất thiên hạ.cho nên một
khi mà Hoàng Triều Ngọc Phả của Tôn Nhân Phủ
đă ghi chép như vậy th́ Quảng Oai công và
Thường Tín Quận vương con của vua Gia Long
đích thực là cháu ngoại vua Hiển tông nhà Hậu
Lê. Nhưng nếu đă khẳng định rằng
mẹ đẻ của Quảng Oai công và Thường
Tín Quận vương không phải là công chúa Lê Ngọc
Hân th́ đương nhiên phải nêu vấn đề
mẹ đẻ các ngài là công chúa con vua, cũng đă có
một đời chồng trước là chồng vua,
bây giờ lấy đời chồng hai là vua Gia Long sinh
hạ được hai hoàng tử. Mẹ đẻ
của các ngài quả là một nhân vật dị
thường đúng như lời truyền tụng
của nhân gian trong gần hai trăm năm nay:
Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua.
Con vua là con vua Lê Hiển tông nhà Hậu Lê. Hai đời
chồng vua th́ đời chồng vua trước là vua
Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, c̣n đời
chồng vua thứ hai là vua Gia Long, vua sáng nghiệp nhà
cựu Nguyễn. Bà là công chúa Lê Ngọc B́nh, công chúa con
vua Hiển tông nhà Hậu Lê, em ruột công chúa Lê Ngọc
Hân, là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh nhà
Nguyễn Tây Sơn, Đệ Tam cung vua Gia Long nhà cựu
Nguyễn, mẹ đẻ các hoàng tử Quảng Oai
công "sinh năm 1809" và Thường Tín Quận
vương "sinh năm 1810".
Thân thế và sự nghiệp hai bà Lê Ngọc Hân và Lê
Ngọc B́nh có nhiều điểm tương
đồng, mà những điểm tương
đồng đó lại là những điểm rất
căn bản. Hai bà đều là công chúa con vua Hiển
Tông nhà Hậu Lê, hai bà đều sinh trưởng ở
ngoài Bắc, nghĩa là cả hai đều là công chúa
Đông đô. Lớn lên hai bà đều lấy chồng
trong Trung, chồng của hai bà đều là hoàng
đế nhà Nguyễn Tây Sơn, nghĩa là cả hai bà
đều là Hoàng hậu Phú Xuân. Do những điểm
tương đồng căn bản đó mà những
câu chuyện truyền tụng về cuộc đời
hai bà đan kết vào nhau, theo với không gian và thời
gian mà dần dà thay đổi, để rồi lẫn
lộn với nhau, cuối cùng th́ chuyện có thật
về người này trở thành chuyện huyền
thoại của người kia. Nói rơ hơn, công chúa Lê
Ngọc Hân chỉ lấy chồng một lần, c̣n
công chúa Lê Ngọc B́nh, sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi,
mới được vua Gia Long sách lập làm Đệ Tam
cung, mới là người phụ nữ lạ
thường "con vua lại lấy hai đời
chồng vua".
Điều đáng lưu ư là chính sử nhà Cựu
Nguyễn không nói ǵ về công chúa Lê Ngọc B́nh, c̣n các
sử liệu liên quan đến nhà Nguyễn Tây Sơn
th́ tất nhiên dưới triều nhà cựu Nguyễn đă
không được lưu hành, tàng trữ. Lại
nữa, sự nghiệp của hai hoàng đế Quang
Trung và Cảnh Thịnh khác biệt nhau một vực
một trời, cho nên sử Tàu, sử ta trong Nam, ngoài
Bắc, đâu đâu cũng nói nhiều về vua cha mà
ít khi đề cập đến vua con, do đó mà có
hệ luận tất yếu là những ǵ liên quan
đến vua cha th́ người đời đều
biết nhiều hơn những ǵ liên quan đến vua
con. Bản thân công chúa Lê Ngọc Hân cũng có nhiều
điểm sắc sảo lanh lợi hơn công chúa Lê
Ngọc B́nh, nhất là công chúa Lê Ngọc Hân đă thông
Hán tự lại c̣n giỏi quốc âm, nổi tiếng
v́ bài Ai Tư Văn. Bởi các lẽ đó mà từ
trước đến nay chúng ta chỉ nghe nói
đến công chúa Lê Ngọc Hân mà không nghe ai đề
cập đến công chúa Lê Ngọc B́nh. Chỉ từ
sau năm 1975, ty thông tin Văn hoá Nghĩa B́nh ấn hành
và phổ biến một số tài liệu liên quan
đến thân thế và sự nghiệp các nhân vật
đời Tây Sơn, chúng ta mới bắt đầu
chú ư các nhân vật như Lê Ngọc B́nh, là công chúa con vua
Hiển tông nhà Hậu Lê và là Chính cung Hoàng hậu vua
Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản.
Theo các tài liệu do ty Văn hóa Nghĩa B́nh công bố,
vua Cảnh Thịnh và công chúa Lê Ngọc B́nh đồng
trang lứa với nhau. Vua Cản Thịnh sinh năm
1783, đúng như Đại Nam Chính Biên Liệt truyện
và các phúc tŕnh của các giáo sĩ Longer và Le Labousse
gởi cho Phái bộ Truyền giáo Nam Hà đă ghi chép. Như
vậy, ngày công chúa Lê Ngọc Hân vầy duyên cá
nước với Tiết chế Nguyễn Huệ
(1786) th́ công chúa Lê Ngọc B́nh mới có 4 tuổi.
Đến năm Bính Ngọ (1792), vua Quang Trung mất, vua
Cảnh Thịnh lên nối ngôi, cả nhà vua lẫn công
chúa mới được 10 tuổi. Thời gian này
cả hai đang ở tuổi trúc mă thanh mai. Những
năm tiếp theo là những năm Thái sư Bùi Đắc
Tuyên chuyên quyền nên chắc chắn là công chúa Lê
Ngọc Hân dù đă có ư định vẫn chưa
thể thực hiện việc kết hợp sắt
cầm cho em gái với con chồng. Phải đợi
đến sau chính biến năm Ất Măo (1795), phe cánh
Thái sư Bùi Đắc Tuyên bị dẹp tan, công chúa Lê
Ngọc Hân mới có điều kiện thu xếp
đưa em gái lên ngôi Chính cung Hoàng hậu.
Lúc này, các bề tôi thân tín lục tục trở về
triều, công chúa Lê Ngọc Hân củng cố lại
thế lực trong chốn nội đ́nh và có ảnh
hưởng quyết định đến công việc
triều đ́nh, th́ cũng là lúc công chúa Lê Ngọc B́nh
vừa được 13 tuổi. Như vậy, công chúa
Lê Ngọc Hân đối với công chúa Lê Ngọc B́nh th́
vừa là chị ruột, vừa là mẹ chồng. Cả
hai đều là công chúa Đông đô con vua Hiển tông nhà
Hậu Lê. Cả hai đều trở thành Hoàng hậu
Phú Xuân, công chúa Lê Ngọc Hân là Bắc cung Hoàng hậu
của Thái tổ Vũ Hoàng đế, công chúa Lê
Ngọc B́nh là Chính cung Hoàng hậu của vua Cảnh
Thịnh Nguyễn Quang Toản. Đến năm Kỷ Mùi
(1799), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7, công chúa Lê
Ngọc Hân mất, công chúa Lê Ngọc B́nh vừa
được 17 tuổi. Đến năm Tân Dậu
(1801), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 9, kinh thành Phú
Xuân thất thủ, vua Cảnh Thịnh chạy ra
Bắc hà không kịp mang theo gia quyến, th́ công chúa Lê Ngọc
B́nh chỉ có 19 tuổi, nếu tính tuổi theo lối
ngày nay th́ công chúa Lê Ngọc B́nh chỉ mới 18 tuổi
mà thôi. Chính vào thời điểm này Đại Nguyên súy
Tổng Quốc chính Nguyễn Phúc Ánh gặp công chúa Lê
Ngọc B́nh và năm sau, tức là năm Nhâm Tuất
(1802), Nguyễn vương lên ngôi Hoàng đế,
lấy niên hiệu là Gia Long, và sắc phong công chúa Lê
Ngọc B́nh là Đệ Tam cung, năm ấy công chúa Lê
Ngọc B́nh vừa tṛn 20 tuổi.
Tóm lại việc nhà vua Gia Long sách lập công chúa Lê
Ngọc B́nh, công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, Hoàng
hậu vợ vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây
Sơn, làm Đệ Tam cung là một sự kiện lịch
sử có thật rơ ràng và chính xác, mặc dù chính sử
nhà Nguyễn không đề cập đến. Công chúa Lê
Ngọc B́nh là em ruột công chúa Lê Ngọc Hân. Cả hai
đều là công chúa Đông đô, đều
được sắc phong Hoàng hậu Phú Xuân. Nhiều
câu chuyện truyền tụng trong dân gian đều thêu
dệt chung quanh cuộc đời hai bà đan kết
vào nhau, lẫn lộn vào nhau, thay đổi dần dà
với thời gian và không gian, và đặc biệt là
không mấy ai biết đến công chúa Lê Ngọc B́nh
mà chỉ biết có công chúa Lê Ngọc Hân thôi, nên cuối
cùng, có nhiều chuyện đời thực của bà
này lại trở thành huyền thoại về bà kia.
Vậy từ nay chúng ta hăy dứt khoát khẳng
định sự kiện công chúa Lê Ngọc Hân chỉ
có một đời chồng, và chung cục của bà
vẫn là giàu sang tôn quư. Bà là Bắc cung Hoàng hậu
của vua Quang Trung, và bà đă chết dưới triều
vua Cảnh Thịnh, khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi.
C̣n người phụ nữ lạ thường đă
là công chúa con vua lại lấy hai đời chồng vua
là công chúa Lê Ngọc B́nh, em ruột công chúa Lê Ngọc Hân.
Công chúa Lê Ngọc B́nh là con vua Hiển tông nhà Hậu Lê,
có đời chồng thứ nhất là vua Cảnh
Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn và đời chồng
thứ hai là vua Gia Long nhà cựu Nguyễn, đúng
như câu ca dao trong dân gian vẫn c̣n truyền tụng đến
ngày nay:
Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua.
(trích Giai phẩm Xuân TÂY SƠN Mậu Dần 1998)
|
|
|
|

|
|
|
|
|
Chau Nhuoc Lan
|
|
Xem Lư Lịch
|
|
Gửi tin nhắn tới Chau Nhuoc
Lan
|
|
T́m thêm bài của Chau Nhuoc Lan
|
|
02-04-2004
|
#8
|
|

 
|
|

Như các vị đă bàn luận về
Ngọc Hân Công chúa tại hạ sẽ đưa về
người chồng của bà để các vị
hảo hán hiểu thêm về Ngọc Hân và chồng
[center:211d9b9c40]Quang Trung Nguyễn Huệ,
người anh hùng áo vải [/center:211d9b9c40]
Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ (1753 - 1792) là
vị anh hùng dân tộc vĩ đại của Việt
Nam thế kỷ 18, người đă có công thống
nhất đất nước, bảo vệ độc
lập dân tộc, mở ra một triều đại
mới.
Với thiên tài quân sự và chính trị của ḿnh, ông
đă lănh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn,
lần lượt tiêu diệt hai tập đoàn phong
kiến Trịnh - Nguyễn, đánh tan năm vạn
quân Xiêm và 20 vạn quân Măn Thanh xâm lược. Triều
đại Tây Sơn do ông lập ra tuy ngắn ngủi,
song đă để lại dấu ấn sâu đậm
về văn hóa, xă hội trong lịch sử dân
tộc.
Quang Trung Nguyễn Huệ là người anh hùng áo
vải đă đánh đổ cả hai tập đoàn
thống trị phản động ở Đàng Trong và
Đàng Ngoài, người đă lập nên những
chiến công hiển hách chống quân xâm lược Xiêm
và Măn Thanh, thực hiện được khát vọng
thống nhất đất nước của dân
tộc vào cuối thế kỷ thứ 18.
Tổ tiên xưa của Nguyễn Huệ là họ
Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh
Lưu, trấn Nghệ An. Sau có một chi dời vào
huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Xuân. Theo các cụ
ở Hưng Thái, Hưng Nguyên cho biết th́ họ
Hồ ở Hưng Thái hằng năm thường có
sang Nghi Xuân nhận họ. Trong trận tấn công ra
bắc vào tháng 6 năm Ất Mùi (1655), quân Nguyễn
chiếm được 7 huyện Nam sông Lam (Nghệ
An), bắt dân đưa vào Đàng Trong khai hoang. Sách
cũ đều nói tổ bốn đời của
Nguyễn Huệ cũng ở trong số di dân ấy,
lúc đầu đến ở ấp Tây Sơn Nhất
thuộc huyện Quy Ninh, phủ Quy Nhơn. Đến
đời Nguyễn Phi Phúc (có sách chép là Hồ Phi Phúc)
mới dời đến ở ấp Kiên Thành, huyện
Tuy Viễn, nay là làng Kiên Mỹ, xă B́nh Thành, huyện Tây
Sơn, tỉnh Nghĩa B́nh. Nguyễn Phi Phúc và vợ là
Nguyễn Thị Đông sinh ra Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ và một người
con gái.
Nguyễn Huệ sinh năm 1753. Thuở nhỏ
Nguyễn Huệ c̣n có tên là Thơm, sau gọi là B́nh.
Cả ba anh em đều theo học thầy Hiến,
một nhà nho bất đắc chí, v́ phản
đối chính sách hà ngược của Trương
Phúc Loan nên bỏ trốn vào Quy Nhơn mở
trường dạy học ở ấp Yên Thái.
Theo Hoa Bằng trong Quang Trung anh hùng dân tộc th́
Nguyễn Huệ tóc quăn, da sần, mắt như
chớp sáng, tiếng nói sang sảng như tiếng
chuông, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm. Sách
Tây Sơn thuật lược c̣n miêu tả đôi
mắt Quang Trung "ban đêm khi ngồi không có đèn
th́ ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu".
Mùa xuân năm 1771, đất Tây Sơn sôi động, lá
cờ nghĩa bằng lụa đỏ dài 10 m
được dựng lên với khẩu hiệu
lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo và lời hịch
kể tội Trương Phúc Loan được
truyền đi khắp nơi. Các tầng lớp nhân dân
người Kinh, người Thượng đều
hăng hái tham gia. Từ cuộc khởi nghĩa Tây
Sơn này, Nguyễn Huệ trở thành lănh tụ
kiệt xuất của phong trào nông dân thế kỷ 18
và cũng trở thành người anh hùng dân tộc
vĩ đại:
[center:211d9b9c40]Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công
tŕnh.[/center:211d9b9c40]
(Ai tư văn - LÊ NGỌC HÂN)
Nguyễn Huệ là nhà quân sự thiên tài. Trong hoạt
động quân sự, ông chủ động tập
trung lực lượng đánh vào những mục tiêu
chiến lược trọng yếu nhất và hành
động liên tục, bất ngờ, chớp nhoáng,
quyết liệt làm cho đối phương không
kịp đối phó.
Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân vào Gia Định
đánh tan sào huyệt của quân Nguyễn, bắt
giết được Nguyễn Phúc Dương và
Nguyễn Phúc Thuần. Sau chiến thắng, ông giao
quyền cai quản Gia Định cho các tướng
rồi trở lại Quy Nhơn.
Năm 1785, được tin báo quân Xiêm xâm lược,
Nguyễn Huệ đem đại binh vào Gia
Định. Trong mấy trận đầu, quân Tây
Sơn rút lui để nhử giặc vào trận
địa mai phục sẵn. Quân Xiêm kéo vào Rạch
Gầm và Xoài Mút (phía tây Mỹ Tho) bị phục binh Tây
Sơn ở các mặt cùng đổ ập ra tiến
công bất ngờ, quyết liệt. 5 vạn quân
thủy bộ cùng 300 chiến thuyền bị đánh
tan tác, chỉ c̣n vài ngh́n tên sống sót chạy trốn
về nước theo đường núi.
Đến trận đại phá 20 vạn quân Thanh
đầu năm 1789 th́ thật là kỳ diệu.
Cuối năm 1788, quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ
huy đă chiếm Thăng Long. Tiền đội quân
Thanh thọc sâu đến tận Hà Nam. Quanh Thăng Long
dày đặc một hệ thống những
đồn kiên cố ở Hạ Hồi, Ngọc Hồi,
Khương Thượng... để bảo vệ.
Ngày 21 tháng 12 năm 1788, nhận được tin báo
khẩn cấp của Ngô Văn Sở, ngay ngày hôm sau,
tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi hoàng
đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi
lập tức thống lĩnh đại quân tiến ra
bắc.
Ngày 15-1-1789, quân Tây Sơn đă tập kết ở Tam
Điệp. Khi cho quân ăn Tết trước ở
đây, Quang Trung tuyên bố: "Nay hăy làm lễ ăn
Tết Nguyên Đán trước, đợi đến
sang xuân, ngày ta vào Thăng Long sẽ mở tiệc
lớn. Các ngươi hăy ghi nhớ lấy lời ta xem
có đúng thế không?".
Trong trận này, với chiến lược đánh nhanh
thắng nhanh, Quang Trung chọn thời gian và không gian
hoàn toàn bất ngờ đối với quân Thanh đang
kiêu căng, tự măn với những thắng lợi
bước đầu và mải mê chuẩn bị ăn
Tết.
Đêm 30 Tết, quân chủ lực Tây Sơn
vượt sông Đáy tiêu diệt đồn tiền
tiêu của địch, mở đầu cuộc
tiến công. Ngày 3 Tết vây đồn Hạ Hồi, uy
hiếp buộc địch đầu hàng. Ngày 5
Tết, mở trận quyết chiến ở
đồn Ngọc Hồi. Bằng trận Ngọc
Hồi - Đầm Mực, quân Tây Sơn đă
đập tan cứ điểm then chốt nhất
của địch. Sau đó đồn Khương
Thượng nhanh chóng bị tiêu diệt, tướng
Sầm Nghi Đống tự tử, Tôn Sĩ Nghị
bỏ chạy. Trưa ngày 5 Tết Kỷ Dậu, vua
Quang Trung cùng tướng sĩ chiến bào nhuộm
đen khói súng tiến vào Thăng Long.
Nguyễn Huệ c̣n là nhà chính trị sáng suốt. Từ
mục tiêu trước mắt của phong trào nông dân là
đánh đổ chế độ áp bức Trịnh -
Nguyễn, Nguyễn Huệ đă vươn lên nhận
thức được nhiệm vụ dân tộc là
thống nhất đất nước và đánh
đuổi ngoại xâm. Ông phê phán tội ác chia cắt
đất nước: "Mỗi họ tự ư gây
dựng bờ cơi riêng ḿnh, kỷ cương, trời
đất một phen đổ nát không dựng lên
được..." (Chiếu lên ngôi).
Năm 1786, Nguyễn Huệ đem quân ra bắc với
khẩu hiệu "Phù Lê diệt Trịnh", cô
lập triệt để quân Trịnh nên lấy
được Bắc Hà một cách dễ dàng.
Nguyễn Huệ nói với Nguyễn Hữu Chỉnh:
"Ta đem mấy vạn quân ra đây, chỉ đánh
một trận mà dẹp yên được cả thiên
hạ... Ví phỏng ta muốn xưng đế, xưng
vương, ǵ mà chẳng được. Sở dĩ
ta nhường nhịn không ở những ngôi ấy, là
hậu đăi nhà Lê đó thôi!" (Hoàng Lê nhất
thống chí). Nhưng Nguyễn Huệ cũng biết
trong nhân dân và nho sĩ Bắc Hà c̣n nhiều người
luyến tiếc nhà Lê nên ông bằng ḷng lấy công chúa
Ngọc Hân nhà Lê rồi lui về Thuận Hóa. Năm
1787, sau khi sai Vũ Văn Nhậm đem quân ra bắc
giết Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ
vẫn để cho Lê Duy Cẩn làm giám quốc bù nh́n.
Nguyễn Huệ chỉ chính thức lên ngôi hoàng
đế thay nhà Lê khi Lê Chiêu Thống lộ rơ bộ
mặt phản quốc, rước quân Thanh vào giày xéo
đất nước.
Thành công của Nguyễn Huệ về chính trị c̣n
ở việc ông được nhân tài trong nước
ủng hộ. Về vơ tướng có Trần Quang
Diệu, Vũ Văn Dũng, Đặng Tiến
Đông, Ngô Văn Sở... Ra Thăng Long, Nguyễn
Huệ thu phục được Ngô Th́ Nhậm, Phan Huy
ích, Nguyễn Thế Lịch, Đoàn Nguyễn Tuấn,
La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp... là những
kẻ sĩ đất bắc có thực tài, biết
thời thế. ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ
được sự cộng tác hết ḷng của
Trần Văn Kỳ, một bậc danh sĩ nổi
tiếng ở đất Đàng Trong, người có
công lớn giúp Nguyễn Huệ tổ chức bộ máy
cai trị và giới thiệu cho Nguyễn Huệ
những nhân tài trong nước.
Về mặt đối ngoại, Nguyễn Huệ
rất khôn khéo trong cách ứng xử với bọn phong
kiến phương bắc. Tuy đă:
[center:211d9b9c40]Đánh cho nó chích luân bất phản,
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn[/center:211d9b9c40]
Nhưng sau chiến thắng, Nguyễn Huệ vẫn
chủ động cầu ḥa, bề ngoài xin thần
thuộc để dập tắt ư đồ phục
thù của nhà Thanh và buộc chúng phải chính thức
công nhận Quang Trung làm "quốc vương",
từ bỏ dă tâm thu nạp bọn lưu vong phản
quốc, lấy cớ xâm lược nước ta
một lần nữa.
Năm 1789, khi cuộc kháng chiến vừa kết thúc,
Quang Trung đă ban bố Chiếu khuyến nông nhằm
phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng
đất bỏ hoang. Đồng thời ra lệnh băi
bỏ nhiều thứ thuế công thương
nghiệp nặng nề trước đây, mở
rộng việc buôn bán làm ăn cho thương nhân và
thợ thủ công. Quan hệ buôn bán với nước
ngoài được mở mang.
Quang Trung cũng ra sức xây dựng và phát triển
nền văn hóa dân tộc, ban bố Chiếu lập
học, khuyến khích các xă mở trường học.
Tiếng nói dân tộc được coi trọng. Quang
Trung muốn đưa chữ Nôm lên địa vị
chữ viết chính thức của quốc gia. Lập
Viện Sùng chính để dịch sách chữ Hán ra
chữ Nôm. Các văn kiện của Nhà nước
dần dần viết bằng chữ Nôm.
Khi dân làng Văn Chương (Hà Nội) xin dựng
lại bia tiến sĩ ở Văn Miếu, Quang Trung
tự tay phê vào lá đơn như sau:
[center:211d9b9c40]Nay mai dựng lại nước nhà,
Bia nghè lại dựng trên ṭa muôn gian.[/center:211d9b9c40]
Nhưng tiếc thay, khi đất nước đang
trên bước chuyển ḿnh đầy triển
vọng th́ ngày 16-9-1792, Quang Trung đột ngột
từ trần, lúc đó ông mới 39 tuổi.
Chữ kư của TieuHoaVinh
Công danh nam tử c̣n
vướng nợ
Luống thẹn tai nghe
chuyện Vũ Hầu
|
|
|
|
|
http://luyenchuong.net/forum/showthread.php?t=62935
USA - Liên Trường Thvn Góp $16,000
Cho Thương Phế Binh Vnch
Ban tổ chức Họp Mặt Hè Liên Trường
2008
Garden Grove (California) - Khoảng 450 Cựu học sinh, Giáo
sư và Quan khách đă đến tham dư Ngày Hop Mặt Hè
Liên Trừơng vào chiều Chủ nhật 14 tháng 9, 2008 tại
nhà hàng Seafood Kingdom, thành phố Garden Grove.
Đây là một buổi họp mặt Hè hằng năm do
Liên Trừơng Trung Học VN tổ chức nhằm thắt
chặt t́nh thân hữu giửa các cưu hoc sinh thuộc các
Trường Trung Hoc Viet Nam Cộng Ḥa trước năm
1975 và đồng thời cũng là dip để gây Quỹ
giúp đở các Thương Phế Binh VNCH kém may mắn tại
quê nhà.
Tham dư buoi Hop mat Hè năm nay chung toi nhận thấy có
các Trư ờng: Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn
Duyet, Regina Pacis, Petrus-Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Trăi,
Chu văn An, Quốc Học, Đồng Khánh (Huế), Nguyễn
Hoàng (Quảng Tri), Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm
(Cần thơ), Nguyễn Đ́nh Chiểu, Lê Ngọc Hân (Mỹ
tho), Mạc Đỉnh Chi, Lư Thựng Kiệt (Hóc Môn),…Hôi
đoàn bạn đến tham dự có Hội cưu Sinh
Vien Sĩ Quan Thủ Đức Nam Cali, Hội Ái Hưu Kỹ
sư Boeing (VAAPA), Ai hưu Hàng Không Viet Nam, Hội Đền
Hùng,..
Sau phần nghi thức khai, Chào Quốc Kỳ Mỹ Việt
và phút măc niêm, Lê Văn Duyệt Đặng Thi Cần, Hội
trưởng Lê văn Duyệt, kiêm Chủ tich luân phiên Liên
Trừơng đă lên sân khấu chào mừng quan khách. Sau
đó Ông Nguyễn Mai, CHS Chu Văn An, Tổng Thư Kư Liên
Trừơng đă tường trinh cac sinh hoat Liên trường
trong năm vừa qua. Ông cho biết Liên Trừơng đă
gửi trực tiếp về giúp đở được
247 Gia dinh TPB/Quả phu trong dip Tết Nguyên Đán (Mậu
Tư) và Ngày Quân Lưc VNCH 19/6 vưà qua, mỗi gia đ́nh nhận
đuơc $50 USD và trong trường hơp đặc biệt
sẽ được trợ giúp $100 USD với số tiền
đă gửi về là $13,004 USD. Ngoài công tác cưu trợ
TPB, Liên Trừơng cũng đă gưỉ về giúp
đỏ Trung Tâm Khuyêt tật Quận 4, Saigon một số
tiền là $2,859 và hằng năm yểm trợ cho Giải
Khuyến Hoc Việt Olympia. Tổng số tiền LT đă
giúp đở cho các công tác xă hội nói trên là $16, 263 USD.
Tiếp theo đó là một chương tŕnh văn nghệ
thật đăc sắc và phong phú do các cưu hoc sinh Liên
Trừờng tŕnh diễn gồm có: “Nhạc Cảnh Khúc
Hát Ân tinh” do ban Văn nghệ Hội CNS Gia Long Nam Cali trinh
diễn, nhạc cảnh “Anh Không Chết Đâu Em” do song ca
PK Đặng Tuấn và RP Ngọc Hân trinh bày, nhạc cảnh
“Ngày Trở về” do các CNS Regina Pacis trinh diễn, màn thi
nhac giao duyên “Hai Sắc Hoa Tigôn” với GL Kim Dung & GL Thúy
An, màn dân ca “Người Ơi Người Ở đừng
Về” với TV Thúy Lan, màn tŕnh diễn Áo dài Viêtnam,
đơ n ca Bích Phượng, và đặc biệt ca
sĩ Ngoc Ánh cũng đă đến đóng góp những ca
khúc nóng bỏng và vui nhộn. Tiết mục văn nghệ
ṇng côt trong chương trinh Họp măt Liên Trừơng
năm nay là nhạc cảnh ” Chiều Trên Phá Tam Giang” cuả
cố Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đă được
TV Mai Khanh và Nguyễn Đức Cường (CHS Mạc
Đỉnh Chi) đạo diễn với phần phụ
diễn cuả các diễn viên Liên Trường đă làm cho
mọi người hết sức xúc động.
Sau màn nhac cảnh, Lê Văn Duyệt Thúy Lan và Chu Văn An
Nguyễn Mai đă lên kêu goi các Mạnh Thựng Quân đóng
góp giúp đở các TPB tai quê nhà, ban tổ chức đă nhận
được rất nhiều hiện kim yểm trợ của
các Manh Thường Quân. Số tiền ban tổ chức nhận
được gồm có: $10, 034 do các MTQ đă gửi về
trước khi họp mặt, và $3,688 thu được tại
chỗ. Tổng số tiền thu được cho Quỹ
TPBVNCH bao gồm tiền lời cho buổi họp mặt
Hè 2008 đă lên đến $16,222 Mỹ kim.
Được biết Liên Trường đă gửi về
giúp đở các TPBVNCH từ năm 2002 và cho đến nay
đă gửi về giúp đở 1,412 Gia đ́nh TPB và gửi
tặng 26 chiếc xe lăn với tổng số tiền
trên $77,000 Mỹ kim.
Chương tŕnh Họp mặt Hè được tiếp tục
với phần Dạ vũ và đă kết thúc vào lúc 11:00
đêm cùng ngày.
Mọi chi tiêt về Liên Trừờng Trung Học Viet Nam
Nam Cali xin liên lac về Tổng Thư Kư CVA Nguyễn Mai:
(714) 889-8498 hoặc E-mail:lientruongthvn@yahoo.com.
Attached Thumbnails

http://www.bentrehome.net/forums/index.php?showtopic=646
http://www.skyscrapercity.com/showthread.php?t=440008

Từ
Quế Minh,
cut
and paste from google search, (hoàn toàn không edit)
10/8/2008