VAI TR̉ ĐẶC BIỆT CỦA
TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN Đ̀NH CHIỂU MỸ THO
ĐỐI VỚI MIỀN NAM VIỆT NAM HỒI ĐẦU THẾ KỶ XX
Nguyễn Thanh Liêm
Vào cuối thập niên 1860 cả Miền Nam rơi vào tay người Pháp. Họ biến Nam Kỳ Lục Tỉnh thành phần đất thuộc địa của họ và gọi miền này là Cochinchine, đặt dưới quyền cai trị của một ông Thống Đốc. Tất cả các Thống Đốc Nam Kỳ lúc đầu đều thuộc thành phần quân nhân, hầu hết là các ông đô đốc hay phó đô đốc hải quân, v́ trong thời gian đầu này t́nh h́nh chưa hoàn toàn ổn định, c̣n nhiều ổ kháng chiến của người dân Việt ở các nơi, họ cần phải có những ông thống đốc quân sự để đánh dẹp các cuộc nổi dậy. Họ thiết lập hệ thống cai trị mới theo tổ chức hành chánh Pháp, nhưng lúc đầu chưa có người theo Tây học nên họ vẫn phải dùng một số các nhà nho làm việc dưới sự giám sát của một số thanh tra người Pháp. Đến cuối thập niên 1870 khi việc b́nh định đă xong họ nghĩ đến chính sách cai trị mới tựa trên căn bản chính trị và văn hóa hơn là trên căn bản quân sự. Một ông Thống Đốc đầu tiên thuộc thành phần dân sự (chính trị) được cử sang Nam Kỳ để thi hành chính sách mới này. Vị Thống Đốc dân sự đầu tiên này là ông Le Myre de Vilers. Ông sang Sài G̣n đảm nhiệm chức vụ từ ngày 7 tháng 7 năm 1879 đến ngày 12 tháng 1 năm 1883. Chính sách mới của Pháp bấy giờ là văn minh hóa người Việt, cho người Việt học hỏi theo người Tây phương, cho họ hấp thụ văn minh mới, sống theo lối sống văn minh của người Pháp. Sứ mạng văn minh hóa (mission civilisatrice) đó đă được Le Myre de Vilers thực hiện bằng nhiều biện pháp văn hóa và chính trị, nhất là về văn hóa.
Trước khi bị Pháp đô hộ, nền giáo dục ở Việt Nam là nền giáo dục cũ của Nho gia, gọi nôm na là “cái học của nhà Nho” như nhiều người thường nói. Lớp người được đào tạo từ nền giáo dục này là những nhà nho hay những kẻ sĩ. Họ là lớp trí thức đứng đầu trong xă hội Việt Nam xưa xếp hạng theo thứ tự sĩ nông công thương. Họ sành chữ Nho và chữ Nôm, rất giỏi về làm văn làm thơ bằng chữ Nôm hay chữ Hán, thuộc nằm ḷng Tứ Thư, Ngũ Kinh và Bắc sử (tức sử Tàu), nhưng không biết chữ Quốc Ngữ và không có những hiểu biết ǵ về khoa học kỹ thuật cũng như về văn minh Tây phương. Cái học của họ được gọi là sôi kinh nấu sử, thắm nhuần ngôn ngữ và tư tưởng Trung Hoa, học để hoặc tiến th́ vi quan ra làm quan cai trị dân chúng hoặc thối th́ vi sư về nhà mở trường dạy học. Khi người Pháp đến xăm chiếm Việt Nam, hay nói chung là khi văn minh Tây phương mạnh mẽ ồ ạt tràn sang Á Đông th́ lớp trí thức nho sĩ xưa cũng như cả nền học thuật cũ của họ đă trở nên lỗi thời không c̣n thích hợp với t́nh thế mới nữa. Cho nên sau khi người Pháp đặt xong nền đô hộ ở Miền Nam ít lâu th́ họ đă thay thế nền giáo dục cũ của nho gia bằng nền giáo dục mới theo cái học của văn minh Tây phương. Giáo dục mới hay giáo dục của Pháp khởi sự ở Nam Kỳ trước nhất vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX. Ở Miền Bắc và Miền Trung tuy nền học cũ của Nho gia vẫn c̣n kéo dài sang những thập niên đầu của thế kỷ XX nhưng cái học cũ của nho gia cũng đă đến lúc suy tàn như Trần Tế Xương than thở:
“Cái học nhà Nho đă hỏng rồi
Mười người đi học, chín người thôi.”
Người cho thực hiện nền giáo dục mới ở Nam Kỳ để hoàn thành sứ mạng văn minh hóa người Việt là Le Myre de Vilers. Oâng cho mở rất nhiều trường học, từ trường sơ cấp ở làng đến trường tiểu học ở quận và tỉnh, và đặc biệt nhất là một trường trung học (collège) ở Nam Kỳ. Đây là trường trung học đầu tiên ở Việt Nam và vào cuối thế kỷ XIX đây là trường trung học duy nhất cho cả Miền Nam. Lúc đầu khi mới mở, trường chỉ có hai năm học và mang tên là Collège de MỹTho. Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958) đă từng học ở trường này. Sang thế kỷ XX trường mới có đủ bốn năm học và được đổi tên là Collège Le Myre de Vilers, do một số giáo sư của trường đề nghị để ghi nhớ công ơn ông Thống Đốc dân sự đầu tiên đă mở ra trường này và cũng để ghi nhớ công lao của ông đối với việc phát triển nền giáo dục mới ở Nam Kỳ. Đến giữa thập niên 1950 trường được phát triển thêm, có các lớp đệ nhị cấp đủ để trở thành trường trung học đệ nhị cấp. Trường được đổi thành Lycée và mang tên một danh nhân Miền Nam Việt Nam: cụ Đồ Chiểu. Danh xưng Lycée Nguyễn Đ́nh Chiểu rồi Trung Học Nguyễn Đ́nh Chiểu ra đời từ đó và c̣n măi đến bây giờ.
Như đă nói trên trường Nguyễn Đ́nh Chiểu đă ra đời từ năm 1879. Hơn 30 năm sau trường Collège de Cần Thơ (tức trường Phan Thanh Giản sau này) và trường Collège des Jeunes Filles Indigènes (tức trường Gia Long sau này) mới ra đời. C̣n trường lớn nhất là Lycée Petrus Kư th́ gần 40 năm sau (1927) mới hiện diện. Trong hơn 30 năm có mặt một ḿnh ở vùng Đồng nai Cửu Long trường trung học đặc biệt duy nhất này đă đóng vai tṛ quan trọng ǵ đối với vùng địa lư và người dân Nam Kỳ Lục Tỉnh? Vai tṛ đặc biệt quan trọng của trường này là đào tạo lớp người trí thức tân học thay thế cho lớp sĩ phu đă đến lúc phải cáo chung. Trong vai tṛ này trường đă mạnh dạn nối gót nhà bác học Trường Vĩ nh Kư trên con đường xây dựng nền học thuật mới dung ḥa văn minh Tây phương với văn hóa Á Đông, tổng hợp tinh thần khoa học kỹ thuật Tây phương với luân lư đạo đức cổ truyền của người Việt. Lớp người được đào tạo trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX ở trường này là những người dẫn đầu xă hội Miền Nam về mọi phương diện từ chính trị/hành chánh đến văn chương nghệ thuật. Họ là những người trí thức mới hay trí thức tân học. Họ biết chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, và cả chữ Nho nữa. Họ có những hiểu biết căn bản về đạo Nho, về luân lư đạo đức Á Đông và quan trọng hơn nữa là có nhiều kiến thức về khoa học kỹ thuật và triết lư Tây phương. Tiêu biểu cho lớp trí thức tân học xuất thân từ trường này là nhà văn Hồ Biểu Chánh. Ông tên thật là Hồ Văn Trung sinh ngày 1 – 10 năm1885 tại làng B́nh Thành tĩnh G̣ Công. Ông học ở trường Collège de Mỹ Tho rồi lên Sài G̣n học tiếp để lấy bằng Thành Chung. Sau khi thi đậu bằng Thành Chung ông thi vào ngạch Kư lục của Soái phủ Nam Kỳ năm 1906. Bắt đầu từ đó ông trở thành công chức trong ngành hành chánh cho đến khi ông về hưu hồi năm 1946. Oâng giữ nhiều chức vụ khác nhau từ thơ kư đến chủ quận, và phục vụ ở nhiều nơi từ Sài G̣n đến các tĩnh Miền Tây Nam Phần. Oâng mất ngày 4 – 11 – 1958 tại tư thất ở Phú Nhuận, hưởng thọ 74 tuổi. Ông để lại nhiều tác phẩm đủ loại nhưng nổi tiếng nhất và thành công nhất là hơn 60 quyển tiểu thuyết diễn tả khá đầy đủ và trung thực phong tục, tập quán và xă hội Miền Nam hồi đầu thế kỷ XX. Đây là buổi giao thời buổi chuyển tiếp từ xă hội cũ của nhà nho sang xă hội nhuốm màu văn minh Pháp.
Trong những thập niên 1930-40 khi các trường khác ra đời rồi, trường Le Myre de Vilers vẫn tiếp tục vai tṛ quan trọng của nó. Nhiều người xuất thân từ trường này đă giữ những chức vụ lớn và có nhiều đóng góp vào việc phát triển Miền Nam nhất là trong các lănh vực văn hóa giáo dục và nghệ thuật. Về sân khấu cải lương chắc không ai không biết Năm Châu. Ông vừa là soạn giả nổi tiếng, vừa đóng tuồng thật hay, và sau này là giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài G̣n về bô môn cải lương. Năm Châu xuật thân từ Collège Le Myre de Vilers. Giáo sư Tiến Sĩ Trần Văn Khê và ông em là Quái Kiệt Trần Văn Trạch cũng đều xuật thân từ trường này. Nhưng quan trọng hơn hết là những người có công lớn trong việc phát triển nền giáo dục ở Miền Nam từ 1955 đến 1975.
Trong số những người có công nhiều đối với nền giáo dục ở Miền Nam Tự Do người người đáng được nói đến trước tiên là giáo sư Tiến sĩ Trần Hữu Thế. Ông sinh năm 1922 tại làng Long Trung quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Ông đă từng theo học ở các trường Nguyễn Đ́nh Chiểu (hồi c̣n là Collège de Mỹ Tho), và Petrus Kư trước khi sang Pháp lấy bằng Tiến sĩ Khoa Học (Docteur ès Sciences). Tiến sĩ Trần Hữu Thế là giáo sư trường đại học Khoa Học Sài G̣n. Giáo sư được mời làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục thời Đệ Nhất Cộng Ḥa trong khoảng thời gian từ 1957 đến 1960. Ông mất hồi tháng 11 năm 1995 tại Pháp. Dưới sự lănh đạo của ông Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Trần Hữu Thế, những phát triển quan trọng sau đây đáng được ghi nhận.
Các trường Trung và Tiểu học phát triển thật mạnh mẽ ở thời ông, nhất là các trường Trung học. Trước kia cả Miền Nam vào các thập niên 1930 và 1940 chỉ có 4 trường trung học dành cho học sinh Việt Nam, đó là trường Petrus Kư, trường Gia Long, trường Collège Le Myre de Vilers (sau này là Nguyễn Đ́nh Chiểu), và trường Collège de Cần Thơ (sau này là Phan Thanh Giản). Trong 4 trường này chỉ có trường Petrus Kư là có đủ các lớp Đệ Nhị Cấp để học sinh học đến Tú Tài II. Hệ thống giáo dục ngắt đoạn (segmented) và gạn lọc bởi quá nhiều kỳ thi khó khăn của Pháp tự nó đă hạn chế học sinh lên học các lớp cao rất nhiều. Ngoài lư do đó c̣n có chính sách giới hạn việc giáo dục của chính quyền thuộc địa đối với người dân bản xứ, nhất là ở cấp cao từ Tú Tài trở lên. Mặc dù họ tự cho họ cái sứ mạng văn minh hóa (mission civilisatrice) xứ kém mở mang nhưng trên thực tế sự mờ rộng về giáo dục của họ rất là hạn chế. Vào cuối thập niên 1930 trên toàn cỏi Đông Dương chỉ có 406,669 học sinh Tiểu và Sơ học trong số này có khoảng 20% là học sinh Lào và Miên. Sĩ số học sinh ở trung học Đệ Nhất Cấp lúc này có khoảng trên dưới 6,000, tính ra chỉ vào khoảng 2% số người học xong Tiểu học được chọn vào Năm Thứ Nhất trung học mà thôi. Đại Học Hà Nội là đại học duy nhất cho toàn cỏi Đông Dương. Số người học đại học c̣n rất ít mặc dù lúc này trường đă có đủ các phân khoa Y, Dược, Sư Phạm, Mỹ Thuật, Luật, Canh Nông . . . Đến thời giáo sư Trần Hữu Thế sĩ số gia tăng rất nhiều trong ngành giáo dục phổ thông. Trường Tiểu học mọc lên ở khắp nơi, qua khỏi xă, xuống tới ấp. Mỗi tỉnh có một trường trung học Đệ Nhị Cấp, và mỗi quận có một trường trung học Đệ Nhất Cấp. Các trường trung học Trịnh Hoài Đức (B́nh Dương), Châu Văn Tiếp (Phước Tuy), Ngô Quyền (Biên Ḥa), Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc), Thoại Ngọc Hầu (An Giang), Nguyễn Trung Trực (Kiên Giang), Hoàng Diệu (Ba Xuyên). . . ra đời cùng lúc với các trường công lập ở các quận như Cai Lậy, Cái Bè, Chợ Gạo, v v . . . Các trường trung học lớn bắt đầu tách đôi thành hai trường nam và nữ như Nguyễn Đ́nh Chiểu và Lê Ngọc Hân ở Mỹ Tho, Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm ở Cần Thơ. Vào đầu thập niên 1960 tổng số trường Tiểu học công lập trên toàn lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa là 4,625 trường với 1,214,621 học sinh và 22,041 giáo chức. Ở bậc Trung học, ở thời này Việt Nam Cộng Ḥa có 140 trường công lập với 112,129 học sinh. Sĩ số gia tăng 200 phần trăm so với sĩ số hồi niên khóa 1954-55. Đại Học Sư Phạm được thành lập để thay thế Cao Đẳng Sư Phạm di chuyển từ Hà Nội vào từ năm 1954. Đại Học Huế cũng đă hoạt động. Một số thay đổi trong tổ chức thi cử cũng đă được áp dụng. Phần vấn đáp ở các kỳ thi Tú Tài I và Tú Tài II được băi bỏ. Cũng dưới thời này lần đầu tiên kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp được tập trung tất cả về Sài G̣n dưới sự điều khiển của ông giám đốc Nha Trung Học c̣n rất trẻ, rất nghiêm khắc, nhưng làm việc rất khoa học và quy củ. Ông giám đốc Trung Học trẻ đó là giáo sư Trần Văn Tấn, sau này là Khoa Trưởng trường Đại Học Sư Phạm Sài G̣n. Giáo sư Trần Văn Tấn sinh năm 1930 tại quận B́nh Đại, tỉnh Mỹ Tho (sau này là tỉnh Kiến Ḥa). Giáo sư Tấn học ở Collège Le Myre de Vilers rồi sau đó sang Pháp lấy bằng Tiến sĩ Toán Học ở Pháp.
Cũng dưới thời Bộ Trưởng Trần Hữu Thế, Đại Hội Giáo Dục lần I được tổ chức tại Sài G̣n, quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, quân dân chính, các ngành văn hóa giáo dục các cấp từ Tiểu học đến Đại học, từ Phổ Thông đến Kỹ Thuật. . . Ba phương chăm Nhân Bản, Dân Tộc, và Khai Phóng của nền giáo dục quốc gia Việt Nam được chính thức hóa trong hội nghị này. Tinh thần nhân bản đề cao và tôn trọng giá trị của con người, xem con người như một cứu cánh chớ không như một phương tiện hay một công cụ phục vụ cho một mục tiêu nào khác của bất cứ cá nhân, đảng phái hay tổ chức nào. Tinh thần dân tộc đ̣i hỏi nội dung chương tŕnh phải chứa đựng được những sự kiện văn hóa và lịch sử gây nơi học sinh ư thức về quốc gia dân tộc Việt Nam, gây sự tự hào và ḷng yêu nước ở thế hệ trẻ để họ đóng góp vào việc bảo vệ và xây dựng xứ sở sau này. Tinh thần khai phóng đ̣i hỏi chương tŕnh giáo dục phải có tính cách mở rộng cửa để đón nhận những tư tưởng, những kiến thức khoa học tiến bộ ở mọi nơi để tạo số vốn hiểu biết phong phú, tân tiến và hiện đại chớ không đóng kín chật hẹp trong một hệ thống thuyết lư hay tư tưởng nào. Ba phương chăm này được dùng làm nền tảng căn bản cho triết lư giáo dục của Việt Nam Cộng Ḥa. Như đă nói trên, sự đóng góp vào việc phát triển nền giáo dục quốc gia ở Miền Nam của giáo sư Trần Hữu Thế rất đáng được người sau ca ngợi. Đây không phải là sự phát triển b́nh thường theo đà phát triển chung của quốc gia mà là một sự phát triển vượt bực về cả hai phương diện lượng lẫn phẩm. Giáo sư tiến sĩ Trần Hữu Thế là người xuất thân từ tỉnh Mỹ Tho, từ trường Tiểu học Cai Lậy và trường Collège Le Myre de Vilers, tức trung học Nguyễn Đ́nh Chiểu sau này.
Sang phần đầu của Đệ Nhị Cộng Ḥa người tôi muốn đề cập đến nhiều nhất là giáo sư Nguyễn Văn Trường. Ông sinh năm 1930 tại Vĩnh Long, đă từng theo học các trường trung học Phan Thanh Giản, Cần Thơ, và Collège Le Myre de Vilers, Mỹ Tho, trước khi sang Pháp học tiếp ở Toulouse. Ở Pháp về giáo sư Trường dạy ở Đại Học Huế. Năm 1963, sau khi Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, giáo sư Nguyễn Văn Trường được bổ nhiệm làm Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và B́nh Dân Giáo Dục thay thế ông Trần Bá Chức được lên làm Đổng Lư Văn Pḥng cho Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục lúc bấy giờ là giáo sư Phạm Hoàng Hộ. Giáo sư Nguyễn Văn Trường là ông Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và BDGD trẻ nhất từ trước đến giờ. Ông là một trong những người thuộc lớp trẻ đi vào hàng ngũ lănh đạo giáo dục. Từ lúc này trở đi sự lănh đạo trong lănh vực giáo dục ở Nam Việt Nam đă được chuyền sang tay của nhiều người trong giới trẻ. Ít lâu sau khi cụ Trần Văn Hương làm Thủ Tướng lần đầu, giáo sư Trường được mời làm Tổng Trưởng bộ Giáo Dục. Năm 1966 thời của Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, giáo sư Trường lại được mời ra làm Tổng Trưởng Giáo Dục lần thứ hai. Thuộc nhóm người trẻ, có đầu óc cởi mở, tiến bộ, giáo sư Nguyễn Văn Trường rất thiết tha, rất tích cực với nền giáo dục nước nhà. Rất tiếc là ông phải nắm giử vai tṛ lănh đạo giáo dục ở thời hổn loạn, lại chỉ ở địa vị Tổng Trưởng một thời gian ngắn thành ra những ư tưởng cải cách cũng như những dự án phát triển lớn lao của ông chưa có cơ hội thực hiện được. Dù vậy những biện pháp của ông đưa ra để đối phó với t́nh thế rối ren, chấn chỉnh học đường, đem lại trật tự kỷ cương cho ngành giáo dục trong thời hổn loạn này cũng rất đáng được nói đến. Chúng ta c̣n nhớ là sau khi ông Diệm bị đảo chánh các trường trung học ở Sài G̣n và một số các tỉnh lỵ lớn khác phải trải qua một thời kỳ hết sức tối tăm. Một số học sinh do sự xúi dục của những nhóm đầu cơ chính trị đă nổi lên đả đảo hiệu trưởng và ban giám đốc các trường đưa đến t́nh trạng hổn loạn, vô kỷ luật, vô trật tự, khiến cho việc dạy dỗ của giáo sư và việc học hành của học sinh bị trỡ ngại rất nhiều. Trước t́nh trạng hổn loạn đó ông Tổng Giám Đốc Nguyễn Văn Trường cương quyết dùng biện pháp mạnh đem lại kỷ luật và trật tự cho học đường với bất cứ giá nào. Theo lệnh mới của ông Tổng Giám Đốc th́ khi học sinh bất tuân kỷ luật th́ hiệu trưởng báo cáo thẳng về ông Tổng Giám Đốc để ông kư giấy đuổi học. Ông muốn chính ông lănh trách nhiệm đuổi học sinh như vậy để tránh áp lực địa phương, tránh sự trả thù hay làm khó dễ ban giám đốc nhà trường. Nhờ biện pháp cứng rắn đó mà kỷ luật, trật tự ở học đường được hồi phục nhanh chóng. Nhưng ông cũng đă rất đau ḷng khi phải kư giấy đuổi một học sinh con của một cô giáo cũ của ông ở Vĩnh Long. Pháp bất vị thân, ông đă làm hết bổn phận của ḿnh đối với chính sách giáo dục do chính ḿnh đề xướng. Khi cụ Trần Văn Hương ra làm Thủ Tướng Chính Phủ lần thứ nhất cụ đă mời giáo sư Nguyễn Văn Trường làm Tổng Trưởng Giáo Dục. Thời này cũng là thời hổn loạn ở ngoài xă hội cũng như trong học đường. Một số đảng phái đầu cơ chính trị xúi giục học sinh biểu t́nh, chống dối chính phủ, tạo cảnh bất ổn trong một số các trường trung học lớn ở Đô Thành như Petrus Kư, Gia Long v v . . . khiến cho an ninh trật tự bị xáo trộn, chẳng c̣n dạy dỗ học hành ǵ được cả. Một lần nữa giáo sư Nguyễn Văn Trường phải dùng biện pháp cứng rắn đối phó với t́nh thế. Thông Cáo Số Một ra đời. Đây là lần đầu tiên Bộ Giáo Dục có thông cáo đặc biệt như vậy. Thông cáo này đặt chính trị ra ngoài học đường, nghĩa là không có chính trị ở trong hay chen vào học đường. Các đảng phái chính trị phải trả kỷ luật và trật tự lại cho trường học để cho việc học hỏi dạy dỗ được thực hiện tốt đẹp. Chính sách đặt chính trị ra ngoài học đường là một chính sách đúng về phương diện giáo dục, đúng với tinh thần nhân bản là một trong ba phương chăm giáo dục của Việt Nam Cộng Ḥa đă được đề xướng trước đây trong hội nghị giáo dục toàn quốc và được Quốc Hội chấp thuận ban hành. Theo đúng tinh thần này không ai có quyền, dù với bất cứ danh nghĩa tôn giáo hay đảng phái nào, xúi giục học sinh trung học chưa đủ tuổi trưởng thành, lợi dụng sự hăng say bồng bột của tuổi trẻ, đẩy họ vào những công cuộc chống đối, đấu tranh cốt để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của phe nhóm ḿnh. Dùng tuổi trẻ vị thành niên, dùng học đường (trường trung học) làm phương tiện phục vụ cho chính trị là một hành động trái với tinh thần nhân bản, tinh thần tôn trọng giá trị của con người, xem con người là một cứu cánh chớ không phải là một phương tiện.
Công lớn nhất của giáo sư Trường là đem lại cho dân Hậu Giang trường đại học Cần Thơ. Công lớn này thật khó quên đối với người dân Miền Tây Nam Phần. Tuy nhiên giáo sư Trường là người rất khiêm nhường, ông không muốn nhận công lao đó là của ông, ông thường nói là ông chẳng có công ǵ cả, kết quả tốt đẹp đó có được là nhờ sự tranh đấu mạnh mẽ của nhiều anh em trẻ như Lê Thanh Liêm, Lâm Phi Điểu, Nguyễn Trung Quân, Trần Ngọc Thái, Phan Công Minh, Đào Khánh Thọ v v . . . và nhất là kỷ sư Vơ Long Triều. Kỷ sư Vơ Long Triều là người B́nh Đại, Kiến Ḥa. Ông có học Le Myre de Vilers một thời gian ngắn trước khi sang Pháp lấy bằng kỷ sư canh nông. Trong chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ ông Triều giữ chức vụ Ủy Viên Thanh Niên. Ông đă dùng uy tín và t́nh cảm cá nhân để áp lực ông Kỳ cho Viện Đại Học Cần Thơ ra đời.
Giáo sư Trường có những suy tư rất sâu sắc về giáo dục. Tiếc là thời gian ông làm ở Bộ Giáo Dục quá ngắn, lại nhằm lúc hổn loạn luôn, thành ra ông không có cơ hội để thực hiện những ư tưởng sâu sắc của ông. Những ư tưởng đó ông đă ghi lại trong bài viết “Trường Phan Thanh Giản Cần Thơ Tự Truyện” đăng trong giai phẩm Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm kỷ niệm 80 năm thành lập.
Trong những năm cuối của nền Đệ Nhị Cộng Ḥa, lần đầu tiên Bộ Giáo Dục có những người đầu nảo làm việc cho Bộ một thời gian lâu nhất từ xưa đến 30 tháng 4, 1975. Từ trước tới đây chưa có người nào ở chức vụ Tổng Trưởng Giáo Dục lâu bằng ông Ngô Khắc Tĩnh. Ông ở chức vụ này từ đầu tháng 6 năm 1971 đến hết tháng 3 năm 1975. Người thay cho ông sau đó là Tiến sĩ Nguyễn Duy Xuân, viện trưởng Viện Đại Học Cần Thơ, nhưng giáo sư Nguyễn Duy Xuân chỉ làm Tổng Trưởng được không đầy một tháng th́ mất nước. Cộng sự viên của ông Ngô Khắc Tĩnh có hai người xuất thân từ Mỹ Tho, giữ vai tṛ then chốt trong hai lănh vực vô cùng quan trọng của giáo dục là Đại Học và Trung Tiểu Học. Người thứ nhất là giáo sư Đỗ Bá Khê. Giáo sư Đỗ Bá Khê sinh ở quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho cùng quê với Tiến sĩ Trần Hữu Thế. Tiến sĩ Đỗ Bá Khê cũng sinh năm 1922 như Trần Hữu Thế. Giáo sư Khê không có học ở Le Myre de Vilers mà học ở Petrus Kư khi bắt đầu vào trung học. Đậu xong Tú Tài II giáo sư Khê tiếp tục học lên đại học ở Hà Nội. Sau này ông lấy bằng Tiến Sĩ ở Mỹ. Ông chuyên về đại học cộng đồng và đă đem ư niệm này áp dụng vào giáo dục đại học ở Việt Nam khi ông làm Thứ Trưởng Giáo Dục. Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Bá Khê chỉ làm Thứ Trưởng một thời gian rồi sang làm Viện trưởng Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức vào những năm cuối cùng của nền Đệ Nhị Cộng Ḥa. Người thứ hai là giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm. Giáo sư Liêm sinh năm 1934 tại làng Tân Mỹ Chánh, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, nhưng lớn lên ở bên ngoại, tại làng Phú Túc, quận B́nh Đại tỉnh Mỹ Tho (sau này thuộc quận Hàm Long tỉnh Kiến Ḥa). Giáo sư Liêm học ở trung học Le Myre de Vilers rồi lên Petrus Kư. Giáo sư Liêm tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, có bằng Cử Nhân Giáo Khoa Việt Hán, và sau này lấy bằng Tiến sĩ ở Mỹ (Ph.D. về Research and Evaluation in Education). Ông đă từng làm hiệu trưởng trường trung học Trinh Hoài Đức, B́nh Dương, và trường Petrus Trương Vĩnh Kư, Sài G̣n, trước khi về Bộ Giáo Dục giữ chức vụ Phụ Tá Đặc Biệt ngang hàng Thứ Trưởng đặc trách Trung Tiểu Học và B́nh Dân Giáo Dục từ tháng 6 năm 1971. Ông cũng là Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Chương Tŕnh, và Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Thi Cử. Trong những ngày cuối của chế độ ông là Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục bên cạnh giáo sư Tổng Trưởng Nguyễn Duy Xuân.
Sau đây là những phát triển và đổi mới trong nền giáo dục ở Miền Nam Tự Do trong khoảng thời gian từ 1971 đến 1975 :
Sĩ số và trường sở. Trong niên khóa 1973-74 sĩ số học sinh Tiểu học là 3,101,560 gia tăng gần ba lần sĩ số hồi mười năm về trước. Ở bậc Trung học tổng số học sinh là 1,091,779 tăng gắp bốn lần sĩ số hồi niên khóa 1963-64. Tỷ lệ học sinh xong Tiểu học được vào Trung học là 62% trong khi tỷ số đó chưa được 50% vào những năm cuối thời Đệ Nhất Cộng Ḥa. Năm 1974 có khoảng 2,500 xă dưới sự kiểm soát của Việt Nam Cộng Ḥa. Khoảng một phần tư số xă này có một trường Trung Học Đệ Nhất Cấp gọi là trường Trung Học Tỉnh Hạt. Trung Học Tỉnh Hạt là công thức mới nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục của con em ở bậc trung học. Theo công thức này th́ phụ huynh học sinh địa phương đóng góp xây cất trường sở, pḥng học. Khi xây xong th́ Bộ Giáo Dục (phần Trung Tiểu Học) sẽ bổ nhiệm giáo chức đến điều hành, giảng dạy. Khoảng 600 trường Trung Học Tỉnh Hạt được thành lập theo công thức này trong ṿng ba năm từ 1972 đến 1975. Tính trung b́nh cứ 4 xă là có 1 trường Trung Học Tỉnh Hạt. Các trường trung học ở các quận lỵ hầu hết đều trở thành Trung Học Đệ Nhị Cấp. Tổng số giáo chức Trung Tiểu học đă vượt con số 100,000. Chương tŕnh Tổng Hợp được ban hành. Một số trường trung học phổ thông được biến cải thành trường tổng hợp như Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Trung Trực, Phan Thanh Giản, Kiến Phong, bên cạnh những trường được thiết lập là trường trung học tổng hợp ngay từ đầu như trường Chưởng Binh Lễ, trường Nguyễn An Ninh, và trường Sương Nguyệt Anh. Cùng với sự lớn mạnh rất nhanh của nền giáo dục phổ thông ở bậc Trung Tiểu học, các trường đại học theo công thức mới cũng được thiết lập để kịp thời đáp ứng với nhu cầu. Công thức mới nhằm đáp ứng sự phát triển nhanh chóng ở bậc đại học là Đại Học Cộng Đồng. Một số đại học mới ra đời theo công thức này là Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải ở Nha Trang. Sắp thiết lập xong là Đại Học Cộng Đồng Quảng Đà. Dự án cho Đại Học Cộng Đồng Long Hồ ở Vĩnh Long cũng đă được nói đến trước ngày Việt Nam Cộng Ḥa mất về tay Cộng Sản.
Cải tổ hành chánh giáo dục ở địa phương và trung ương. Ở trung ương Tổng Nha Trung Tiểu Học và B́nh Dân Giáo Dục bị băi bỏ. Nha Tiểu Học, Nha Trung Học và Nha Tư Thục gom về làm thành Nha Học Chánh ở tại Bộ. Sở Khảo Thí trước kia thuộc Tổng Nha bây gờ biến thành Nha Khảo Thí của Bộ. Tại trung ương bây giờ có 14 nha và 1 trung tâm (Trung Tâm Học Liệu). Ở địa phương, mỗi tỉnh trước kia có một Ty Tiểu Học và một số trường trung học. Các trường Tiểu học trong tỉnh th́ thuộc Ty Tiểu Học cai quản, và các ty tiểu học được đặt dưới quyền điều khiển của giám đốc Nha Tiểu Học. Các trường trung học th́ phải về thẳng ông giám đốc Nha Trung Học nhận lệnh. Khi số trường trung học tăng lên quá nhiều Nha Trung Học không trực tiếp điều hành các trường được nữa. Do đó từ 1973 Sở Học Chánh ra đời. Sở Học Chánh là cơ quan giáo dục địa phương coi cả trung tiểu học phổ thông và chuyên nghiệp trong toàn tỉnh. Theo hệ thống hàng dọc, Sở Học Chánh thuộc Nha Học Chánh Bộ Giáo Dục. Trên toàn quốc, Việt Nam Cộng Hóa có tất cả 50 sở học chánh đặt tại 48 tỉnh và 2 thị xă (Đà Nẳng và Vũng Tàu).
Cải tổ thi cử. V́ số thí sinh càng ngày càng đông cho nên việc tổ chức thi cử càng ngày càng khó khăn nặng nề. Trước 1960 số thí sinh c̣n ít và Bộ Giáo Dục c̣n tổ chức được rất nhiều kỳ thi như thời Pháp thuộc : thi Tiểu Học, thi vào Đệ Thất, thi Trung Học Đệ Nhất Cấp với cả hai phần thi viết vấn đáp, thi Tú Tài I (viết và vấn đáp), thi Tú Tài II (viết và vấn đáp). Tú Tài I và II lại có hai kỳ, kỳ I và II cho mỗi năm. Sang thập niên 1960 kỳ thi Tiểu Học được băi bỏ, Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ có thi viết thôi, không c̣n vấn đáp, và sau đó cũng bỏ luôn để chỉ tổ chức kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp Tráng Niên cho những người lớn tuổi. Đến năm 1973 kỳ thi Tú Tài I cũng được băi bỏ luôn chỉ c̣n giữ kỳ thi Tú Tài II xem như kỳ thi tốt nghiệp bậc Trung Học. Cách thức làm đề thi th́ thay đổi từ cách đánh máy một ít đề thi rồi giao cho giám thị pḥng chép tay trên bảng. Sang đầu thập niên mới in ronéo phát cho mỗi thí sinh. Đề thi làm theo lối câu hỏi và thí sinh phải viết câu trả lời dài ḍng (essay). Lối ra đề thi này rất chủ quan, giới hạn các câu hỏi trong một số rất ít chủ điểm, đ̣i hỏi học sinh phải học thuộc ḷng rất nhiều để có thể viết lại kịp thời những ǵ đă học trong sách vở. Với lối ra đề thi như vậy người ta không thể nào khảo sát được một cách khách quan và tổng thể sự thu nhận và hiểu biết của học sinh về những môn quan trọng trong chương tŕnh học. Đề thi và cách chấm thi theo lối này dễ đưa tới việc học sinh học tủ, đánh bùa, chép bài, và giám khảo chấm bừa (thủ vĩ ngâm), t́m bài và nâng điểm. Hồ sơ thi cử như ghi danh, làm phiếu báo danh, sổ điểm, ghi điểm, cọng điểm, v v . . . tất cả đều làm bằng tay và khi thí sinh quá đông th́ không tránh được những sơ sót. Các kỳ thi kéo dài hết cả mùa hè và các giáo sư dạy lớp thi phải đi gác thi, chấm thi luôn, không c̣n th́ giờ nghỉ ngơi hay làm việc ǵ khác. Cái hại nhất của các kỳ thi là giới hạn rất nhiều số người thi đậu, gạn lọc quá nhiều học sinh không để cho có nhiều học sinh tiến lên các cấp cao ở trên. Một trăm học sinh khi xong Tiểu học chỉ c̣n không đầy 50 em được vào Trung học công lập, một số khác phải vào tư thục nếu gia đ́nh có tiền. Trong số 50 em này sau khi xong Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ c̣n khoảng 20 em vào Đệ Tam rồi Đệ Nhị và dự thi Tú Tài I. Xong Tú Tài I c̣n không đầy 10 người lên học thi Tú Tài II. Thường th́ hầu hết những người đậu xong Tú Tài I đều sẽ đậu Tú Tài II sau đó. Thành ra tính trung b́nh không hơn 10% học sinh vào trung học được tốt nghiệp trung học. Thật là phi lư khi rất nhiều học sinh phải mất th́ giờ học bao nhiêu năm, chính phủ phải tốn bao nhiêu tiền bạc để lo cho họ đi học rồi rốt lại chỉ một hai ngày thi cử họ đă phải vứt bỏ hết bao nhiêu công lao, tiền bạc của công cũng như của tư. Cần phải có sự cải tổ về thi cử để cải tiến hệ thống lượng giá và đo lường tŕnh độ học vấn của học sinh và để đương đầu với áp lực của sĩ số mỗi ngày một gia tăng nhanh chóng. Hội Đồng Cải Tổ Thi cử ra đời và làm việc ráo riết để đi đến những biện pháp sửa đổi quan trọng từ 1973. Hồ sơ thí vụ, phiếu báo danh, chấm điểm, ghi điểm, cọng diểm, tính điểm, định hạng v v . . . tất cả đều được điện toán hóa. Bài thi trắc nghiệm khách quan (objective tests) với câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn (multiple choice) được dùng để thay thế bài thi theo lối luận đề (essay). Bảng trả lời (answer sheets) được đặt mua ở Mỹ để có thể chấm bằng máy và chuyển kết quả qua máy điện toán để cọng điểm, tính điểm tiêu chuẩn (standard score), định hạng, làm danh sách trúng tuyển và phát hành các chứng chỉ. Cách thức soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm cũng như cách thức phân tích các câu hỏi (item analysis) sau khi thử nghiệm đều được thực hiện đúng phương pháp khoa học. Phần đoán ṃ của thí sinh (guessing) cũng được dự trù trong cách tính điểm. Tín Độ (Reliability) và Hiệu Độ (Validity) của các bài trắc nghiệm được nghiên cứu xác định kỹ. Nhóm Mẫu (Sample) và Nhóm Định Chuẩn (Norm Group) với trên 10,000 học sinh trên toàn quốc được ngẫu nhiên chọn lựa (randomly selected) để từ đó tính điểm Trung B́nh (Mean) và Độ Lệch Tiêu Chuẩn (Standard Deviation) và biến Điểm Thô (Raw Score) ra Điểm Tiêu Chuẩn (Standard Score). Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi cùng một số các chuyên viên của Nha Khảo Thí và nhiều người có trách nhiệm trong ngành giáo dục trung tiểu học đă hăng say làm việc trong hai năm trời để tiến tới việc cải tổ vô cùng quan trọng này.
Thay đổi quan niệm giáo dục. Giáo dục mới có tính cách phổ thông, mở rộng cửa cho tất cả mọi người chớ không chỉ dành riêng cho một thiểu số nào. Mọi người đều có quyền được hưởng giáo dục, có quyền có cơ hội đồng đều để hưởng sự giáo dục của quốc gia. Giáo dục không dùng những biện pháp gạn lọc hạn chế số người đi học bằng những kỳ thi khó khăn ngắt đoạn ở bậc trung học để giới hạn số người đi học. Càng có nhiều người được đi học th́ dân trí càng cao. Càng có nhiều người học lên cao th́ nước nhà càng tiến bộ càng được hiện đại hóa.
Từ 1955 đến 1975, trong hai mươi năm này nền giáo dục của Việt Nam Cộng Ḥa đă phát triển vô cùng nhanh chóng mặc dù quốc gia phải đương đầu với những khó khăn của cuộc chiến khi nóng khi lạnh chống lại chủ nghĩa Cộng Sản và những bất ổn chính trị xăy ra rất thường ở Miền Nam. Phần th́ ngân sách eo hẹp (chỉ vào khoảng từ 7% đến 7.5% ngân sách quốc gia; quốc pḥng trên 40%, nội vụ khoảng 13%) v́ phải dành phần lớn cho an ninh quốc pḥng, phần thị bị Cộng Sản tích cực phá hoại, phần th́ bị những bất ổn chính trị nội bộ, nhưng tất cả những khó khăn đó đều được vượt qua để đạt những kết quả hết sức khả quan so với nền giáo dục của Cộng Sản ở Bắc Việt cùng trong thời gian này. Kết quả tốt đẹp đó sở dĩ có được là nhờ ở thành tâm thiện chí với những nổ lực không ngừng của rất nhiều người làm giáo dục cùng sự yểm trợ hết sức tích cực của mọi giới dân, quân, cán, chính Việt Nam Cộng Ḥa. Trong số những người lănh đạo giáo dục có đóng góp nhiều công lao trong việc phát triển giáo dục ở Miền Nam có những vị từng sinh trưởng ở Mỹ Tho hay đă từng xuất thân từ trường Le Myre de Vilers hay Nguyễn Đ́nh Chiểu như đă thấy trên.